Án Hà Đông cuối cùng kéo ra không chỉ Ngụy gia và tri phủ địa phương.

Lương thự men theo phiếu bình mã tra lên, vậy mà tra ra vài gia quyến ngôn quan trong kinh cũng nhúng tay. Buồn cười nhất là vị Ngự sử từng mắng ta “phụ nhân tiếm quyền” dữ dội nhất trên triều, sau lưng đang chờ giá gạo Hà Đông tăng thêm một vòng để bán lương cũ nhà mình với giá cao.

Ngày ta hồi kinh, không vào cung trước, mà mang cả những thẻ gỗ đã treo ngoài thành Hà Đông suốt một tháng về cùng.

Cả điện triều thần đều nhìn ta đặt từng tấm thẻ gỗ bị mài đến bóng loáng xuống đất.

Có tấm còn mang vệt dầu do đầu ngón tay bách tính sờ vào.

“Chư vị luôn nói thần chỉ biết tra sổ.” Ta đứng giữa điện, chỉ vào những tấm thẻ gỗ dưới đất, “Nhưng thứ thần tra từ trước tới nay không phải những con số lạnh băng. Hà Đông nhà nào mấy miệng ăn, lĩnh mấy lần lương, chết mấy người, có bán con hay không, trên thẻ gỗ đều có. Nếu các vị thấy thần sai, chi bằng giẫm lên chúng đi tới, nói cho thần biết, lương của Ngụy gia có nên mở không, tri phủ có nên bãi chức không.”

Không ai động.

Lần đó, ngay cả mấy lão thần ghét ta nhất cũng không nói gì nữa.

Sau này khi có người nhắc đến Lương thự, cũng không còn là “nha môn nữ tử chơi đùa” nữa.

Xuân tra Giang Nam, hạ tuần Hà Đông, thu vào Thục địa, đông về kinh thuật chức. Ta gần như luôn ở trên đường, áo choàng không dính mưa thì cũng phủ tuyết. Người trong kinh nhìn thấy ta, cũng dần không còn nhắc đến cuộc lui hôn kia nữa, chỉ nói Tạ đại nhân lại từ bên ngoài trở về rồi.

16

Điều thật sự khiến Lương thự đứng vững trong triều là vụ án muối lương ở Thục địa.

Thục địa núi nhiều đường hiểm, vận lương vốn đã khó. Mùa thu năm ấy mưa liền nửa tháng, ba đoạn sạn đạo sập, quan phủ tấu rằng thiên tai làm lỡ việc vận chuyển mùa thu. Nhưng khi ta lật tấu chương họ đưa tới, lại trước tiên nhìn thấy một con số không nên xuất hiện.

Thuế muối giảm, giá gạo lại không tăng.

Điều này không đúng.

Nếu thật sự sạn đạo bị đứt, lương ngoài vào không được, giá gạo nhất định sẽ vọt lên trước. Nhưng giá lương ở mấy châu phủ Thục địa lại bị ép cực kỳ ổn, ổn đến mức giống như có người ở sau lưng đè chặt.

Khi ấy ta liền hiểu, Thục địa không phải không có lương.

Mà là có người buộc lương và muối vào cùng một chỗ để giăng bẫy.

Khi ta dẫn người vào Thục, sương trong núi rất nặng, bánh xe ngựa lún trong bùn, đi một bước cũng như phải rút ra nửa cái mạng. Người đi cùng ta vẫn là đội cũ của Lương thự, thêm một đội thân binh Tiêu Ký Dã phái cho.

Hắn ở kinh thay bệ hạ xem tấu chương, chỉ sai người gửi tới một câu.

“Đường núi khó đi, đừng cậy mạnh.”

Góc tờ giấy còn đè một tấm bùa bình an rất nhỏ, không biết hắn thuận tay lấy từ ngôi miếu rách nào.

Ta nhìn thấy thì không nhịn được cười, tiện tay nhét tấm bùa kia vào túi thơm.

Tri châu Thục địa họ Khang, người còn chưa thấy, lễ đã đưa tới dịch quán.

Mười xấp gấm, hai mươi vò rượu lâu năm, thêm một hộp nam châu.

Ta ngay cả hộp cũng không mở, trực tiếp sai người khiêng nguyên vẹn về châu phủ, chỉ dán lên trên một tờ giấy.

“Lương thự không nhận lễ, nhận sổ.”

Đêm hôm đó, Khang tri châu liền ngồi không yên, đích thân tới gặp ta. Hắn nói chuyện kín kẽ, trước khóc nghèo, rồi khóc khổ, cuối cùng lại lôi sĩ thân địa phương ra, nói đất Thục bạc màu dân nghèo, hai năm nay nếu không có các muối thương giúp đỡ, quan phủ ngay cả cháo cứu tế cũng không bày nổi.

“Tạ đại nhân,” hắn một mặt thành khẩn, “người mới đến, không biết nỗi khó của Thục địa.”

“Ta biết.” Ta nâng chén trà, đầu không ngẩng, “Cho nên ta mới tới.”

Nụ cười trên mặt Khang tri châu cứng lại.

“Vậy người muốn tra gì?”

“Trước tra diêm dẫn, sau tra kho quan, cuối cùng tra xem các ngươi và thương đội chia chác thế nào.” Ta đặt chén trà xuống, ngước mắt nhìn hắn, “Khang đại nhân, ngươi đoán nhát dao đầu tiên của ta sẽ rơi xuống đâu?”

17

Sắc máu trên mặt hắn nhạt đi ngay.

Chỗ bẩn nhất của án muối lương không nằm trong kho quan.

Mà nằm trên đường.

Muối thương Thục địa thế lực lớn, sơn đạo, phu khuân vác, la ngựa và việc tu sửa sạn đạo đều nằm trong tay bọn họ. Quan phủ ngoài mặt vận lương cứu tế, sau lưng lại để đội lương nhường đường cho đội muối. Vì thế nhìn qua thì xe nào cũng đang chạy, nhưng thứ thật sự vào được miệng bách tính lại ít đến đáng thương.

Ta đi dọc sạn đạo một ngày, ở một hõm núi nhìn thấy hơn mười thi thể chưa kịp chôn.

Đều là phu khuân vác.

Có người ngã chết, có người đói chết, còn có hai người bị người ta dùng sống dao đánh nát lưng.

Quan lại địa phương đi theo mặt trắng bệch, giải thích nói vài ngày trước núi lở không kịp thu liệm. Ta lại đá văng đống sọt trúc bị nước mưa ngâm mục bên cạnh, từ dưới lật ra một chồng khế nợ đóng tư ấn của muối thương.

Những phu khuân vác ấy thay người ta cõng muối, cõng gạo, sửa đường, cuối cùng thứ nhận được không phải tiền công, mà là từng tờ giấy nợ bắt họ năm sau tiếp tục bán mạng.

Ta ngồi xổm trên nền bùn, nhìn những chữ bị máu và nước làm nhòe, bỗng hiểu hết.

Thục địa không đơn giản là tham.

Mà là khóa cả một ngọn núi người vào trong nợ.