Hôm ấy trời rất xanh, gió rất lạnh, nhưng ta nắm tay Tống Nghiên, chỉ thấy bảy năm mùa đông ấy, rốt cuộc cũng đã qua rồi.
Sau này ta nghe người ta nói, sau khi tiểu thư bị đuổi khỏi nhà họ Thẩm, nàng đã mang theo đứa trẻ về nhà mẹ đẻ.
Nhưng những năm ấy, nhà mẹ đẻ nàng dựa vào bạc nàng chuyển từ nhà họ Thẩm về mà mua ruộng đất, tích sản. Nay nhà họ Thẩm gặp chuyện, chủ nợ đã đuổi tới tận cửa nhà nàng, cha mẹ nàng lại chê nàng xui xẻo, không chịu chứa chấp.
Nàng ôm đứa trẻ lang thang đầu đường suốt ba ngày, cuối cùng là một am ni cô ngoài thành nhận nàng vào.
Thẩm Trọng Uyên liệt giường không người chăm sóc, loét giường đến tận xương, đến mùa đông năm ấy thì tắt thở.
Lão phu nhân chết trong đại lao.
Nhà họ Thẩm bị đem ra bán đấu giá để trả nợ, cánh cổng son bị người ta tháo xuống đốt làm củi.
Những tin ấy truyền tới tai ta, khi ấy ta đang ở nhà đốt vàng mã cho cha.
Ta đốt ba xấp giấy trước mộ ông, rồi dập đầu ba cái.
“Cha, con gái về rồi. Xin lỗi cha, con về muộn.”
Tro giấy bị gió cuốn lên, lả tả bay xuống sườn núi.
Ta lau mắt, đứng dậy.
Tống Nghiên ngồi đợi ta trên chiếc xe lừa dưới chân núi.
Chân chàng đời này không thể đứng lên nữa, nhưng chàng dùng đôi chân gãy của mình, dựng một chiếc bàn nhỏ trên xe lừa, lại bắt đầu dạy học.
Người trong trấn đều biết chàng bị oan, lần lượt đưa con trẻ đến theo chàng đọc sách.
Tiền học không nhiều, nhưng đủ cho hai chúng ta ăn cơm.
Ta mở một tiệm thuốc nhỏ trong trấn, dùng phương thuốc cha ta để lại, bốc thuốc chữa bệnh cho hàng xóm láng giềng.
Cuộc sống rất đỗi thanh đạm, nhưng mỗi sáng tỉnh dậy, nhìn ánh mặt trời xuyên qua khung cửa sổ, rơi trên quyển sách Tống Nghiên đang mở, ta đều thấy, đời này thật đáng sống.
Ta không cần phải thức dậy trước lúc trời sáng nữa, đi hầu hạ một kẻ không coi ta là người.
Không cần phải bị phạt đứng trong nước lạnh, quỳ đến mòn đầu gối trước linh đường thay người khác.
Cũng không cần phải nắm chặt ba mươi bảy lượng bạc vụn, hèn mọn cầu xin một lời hứa sẽ vĩnh viễn chẳng bao giờ thành sự thực.
Nửa chiếc đồng tâm kết kia, sau này ta đã đan lại một sợi khác.
Dây đỏ là mới, nhưng kiểu đan kết vẫn là kiểu cũ.
Ta buộc nó lên cổ tay Tống Nghiên.
Chàng cúi đầu nhìn, rồi cười.
“Thanh Đái, xấu chết đi được.”
“Mười ba năm trước chàng có nói thế đâu.”
“Mười ba năm trước ta bị mù.”
Chàng nói rồi, đưa tay kéo ta lại, dùng tay kia vụng về buộc nửa chiếc đồng tâm kết mới ấy lên cổ tay ta.
“Nhưng không sao.”
Đôi mắt chàng nhìn ta, hệt như thiếu niên mười ba năm trước vẫn chạy theo chiếc xe lừa ở phía sau.
“Mù mười ba năm, cuối cùng cũng nhìn rõ rồi.”
(Hết toàn văn)