Hình vẽ này, tôi biết.

Lúc mới bị bán đến thôn Trình Gia, khi tôi tuyệt vọng tột cùng.

Trình Sơn từng âm thầm đưa cho tôi một cái bánh ngô.

Trên cái bánh ngô thô ráp ấy, anh đã dùng ngón tay vẽ một hình mặt trời đơn giản, có phần nực cười như thế.

Anh nói: “Trời rồi sẽ sáng thôi.”

Và dòng chữ bên dưới bức ảnh, càng như một nhát dao nhọn đâm thẳng vào tim tôi.

“Cô không tò mò món quà cuối cùng của anh ta là gì sao?”

“Ngoại ô Bắc Kinh, nhà kho bỏ hoang số 7, mười hai giờ đêm.”

“Đến một mình.”

Tất cả mọi người đều hiểu rõ, đây là một cái bẫy.

Một cái bẫy trắng trợn, không hề che đậy.

“Không được đi!”

Lý Kiến Quốc là người đầu tiên lên tiếng phản đối.

“Rõ ràng đây là cái bẫy của Trình Hải!”

“Cô đi là đâm đầu vào chỗ chết!”

“Tôi biết.”

Tôi bình tĩnh nhìn anh.

“Nhưng, tôi phải đi.”

“Đây là cơ hội duy nhất của chúng ta.”

“Cơ hội duy nhất để lôi hắn từ trong bóng tối ra ngoài ánh sáng.”

“Hắn tưởng mình là thợ săn, còn tôi là con mồi.”

“Nhưng lần này, tôi không muốn làm con mồi nữa.”

Ánh mắt tôi quét qua từng người trong phòng.

“Tôi muốn làm thợ săn một lần.”

“Chúng ta sẽ biến cái bẫy này thành bãi săn của mình.”

“Tương kế tựu kế, giăng thiên la địa võng, cho hắn có đi mà không có về!”

Kế hoạch của tôi quá điên rồ và nguy hiểm.

Nó vấp phải sự phản đối của gần như tất cả mọi người trong tổ chuyên án.

Họ không thể để tôi – nhân chứng quan trọng nhất – mạo hiểm lớn đến vậy.

“Tôi không xin phép các người.”

Tôi ngắt lời tranh cãi của họ.

Giọng tôi không lớn nhưng mang theo sự kiên quyết không thể chối từ.

“Tôi đang thông báo cho các người.”

“Trình Sơn đã dùng mạng anh ấy để đổi lấy mạng tôi.”

“Bây giờ, đến lượt tôi dùng mạng mình để lấy lại công bằng cho anh ấy.”

“Dù các người có đồng ý hay không, cuộc hẹn này tôi nhất định phải đi.”

“Nếu các người vẫn coi tôi là chiến hữu, xin hãy tin tưởng và giúp đỡ tôi.”

“Còn nếu các người chỉ xem tôi như một gánh nặng cần được bảo vệ…”

Tôi ngừng lại một chút, ánh mắt lóe lên vẻ kiên quyết y hệt Trình Sơn trước lúc hy sinh.

“Thì tôi sẽ dùng cách của riêng mình để hoàn thành cuộc báo thù này.”

“Cho dù, phải đồng quy vu tận.”

Phòng họp lại chìm vào im lặng chết chóc.

Vương lão nhìn tôi đăm đăm suốt ba phút liền.

Trong mắt ông có sự giằng xé, không nỡ, phẫn nộ, nhưng cuối cùng đều hóa thành một tiếng thở dài thườn thượt, đầy bất lực.

“Tất cả chú ý.”

Ông đứng dậy, ban lệnh cho toàn đội.

“Lập tức vạch kế hoạch tác chiến ‘Chim Cắt’.”

“Mục tiêu: nhà kho số 7, ngoại ô Bắc Kinh.”

“Yêu cầu tác chiến…”

Ông quay sang nhìn tôi thật sâu, từng chữ một rành rọt.

“‘Mồi nhử’ của chúng ta phải không sứt mẻ một sợi tóc.”

“Và ‘Chim Cắt’ của chúng ta, phải bị bẻ gãy đôi cánh, tóm gọn sống!”

16

Ngoại ô Bắc Kinh, nhà kho bỏ hoang số 7.

Tiếng chuông điểm nửa đêm vang lên như vọng về từ địa ngục.

Tôi đứng trên một gò đất cách nhà kho khoảng một trăm mét.

Khoác trên mình chiếc áo ghi lê chiến thuật chuyên dụng hòa lẫn vào màn đêm.

Trong tai nghe siêu nhỏ là giọng nói trầm ổn của Lý Kiến Quốc.

“‘Chim Cắt’ đã vào vị trí.”

“Lính bắn tỉa đã vào vị trí.”

“Đội đột kích một và hai đã vào vị trí.”

“Hệ thống nhiễu sóng điện tử đã được kích hoạt, trong bán kính ba kilomet, mọi tín hiệu đều bị phong tỏa.”

“Hứa An, cô chắc chắn muốn vào một mình sao?”

Giọng anh không giấu nổi sự lo lắng.

“Tôi chắc chắn.”

Giọng tôi phẳng lặng như mặt nước ao tù.

“Đây là chuyện giữa tôi và hắn.”

“Chỉ khi tôi vào một mình, hắn mới hoàn toàn buông bỏ cảnh giác.”

“Tin tôi đi.”

Một tiếng thở dài não nề vang lên từ trong tai nghe.

“…Bảo trọng.”

Tôi tháo tai nghe, ném vào bụi cỏ.