Mà vì tôi đột nhiên nhớ ra, Niệm Thời cũng thích ăn bánh nếp đường đỏ.
Mỗi lần tôi làm, con đều bê chiếc ghế nhỏ ngồi bên cạnh nhìn, vừa chảy nước miếng vừa đếm:
“Mẹ làm được một cái, hai cái, ba cái…”
Ngày hôm sau, tôi đến chùa.
Tôi đốt bức thư của Bùi Kiến Xuyên trước bàn thờ.
Thư rất dài.
Tôi không đọc nội dung.
Nhưng khi cháy đến trang cuối, có một dòng chữ lộ ra.
“Niệm Thời, đời này ba đã làm sai rất nhiều chuyện, chuyện sai nhất là ba chưa từng tự tay ôm con.”
Ngọn lửa nuốt chửng dòng chữ ấy.
Tro giấy bay lên, rơi trên hũ tro cốt.
Tôi dùng tay nhẹ nhàng phủi đi.
Đầu ngón tay chạm vào vết nứt từng được dán băng keo trong.
Vết nứt vẫn còn.
Nhưng hũ tro cốt rất chắc.
Không vỡ ra.
Những ngày sau đó, Bùi Kiến Xuyên không đến tìm tôi nữa.
Nhưng mỗi tháng, trước cửa căn phòng tôi thuê đều xuất hiện vài món đồ.
Mùa đông là khăn quàng và miếng dán giữ ấm.
Mùa hè là nước chống muỗi và chiếu mát.
Không ký tên.
Ni cô trong ngôi chùa nhỏ nói với tôi, ngày mười lăm hằng tháng đều có một người đàn ông đến thắp hương cho Niệm Thời.
Đến rất sớm, đi rất muộn.
Có lúc ngồi nửa ngày, nói chuyện với hũ tro cốt.
Ni cô nói:
“Cậu ấy ít nói, nhưng cứ nhắc đến đứa trẻ là nước mắt lại rơi. Mỗi lần trước khi đi đều lau bàn thờ sạch sẽ, ngay cả bụi trên người búp bê cũng phủi đi.”
Tôi ở thành phố nhỏ phía nam, bắt đầu lại với việc vẽ tranh.
Một năm sau, tôi tổ chức một triển lãm nhỏ.
Chỉ có mười hai bức tranh.
Trong đó có một bức tên là “Niệm Thời”.
Tranh vẽ một cậu bé nhỏ ngồi trên mây, trong lòng ôm một con búp bê có thêu chữ, mỉm cười nhìn xuống dưới.
Bên dưới có hai người đứng.
Một người là phụ nữ tóc ngắn, thiếu một ngón tay.
Một người là đàn ông cao lớn, trong tay giơ một chiếc đồng hồ điện tử.
Giữa hai người cách nhau một khoảng.
Không xa không gần.
Không nắm tay nhau.
Nhưng cả hai đều đang ngẩng đầu nhìn cậu bé trên mây.
Ngày khai mạc triển lãm, tôi không mời bất kỳ ai.
Nhưng dòng đầu tiên trong sổ ký tên viết một cái tên.
Bùi Kiến Xuyên.
Anh đến, nhìn bức tranh ấy, đứng rất lâu.
Sau đó anh viết một câu vào sổ lưu bút, đặt bút xuống rồi đi.
Sau này tôi đến xem câu đó.
Anh viết:
“Kiến Xuyên, bình an. — Ba của Niệm Thời.”
Đối diện từ xa với dòng chữ tôi từng khắc sau chiếc đồng hồ.
Tôi đứng trước sổ lưu bút, nhìn dòng chữ ấy rất lâu.
Gió từ cửa sổ phòng tranh thổi vào.
Mùa xuân rồi.
Mùa đông Niệm Thời ra đi, đã qua hơn một năm.
Tôi xoay người, đi về phía bức tranh tiếp theo.
Dưới khung tranh có một dòng chữ nhỏ, là tên của bức tranh.
“Kiến Sương”.
Giống hệt tên bức tranh mười năm trước.
Vẫn là một cái cây một mình nở hoa giữa bão tuyết.
Nhưng lần này, bên cạnh cái cây có thêm một thứ.
Một cây non bé nhỏ.
Dù tuyết vẫn rất lớn.
Nhưng nó đã bén rễ.
hết