Hắn trầm mặc chốc lát, phất tay cho ngục tốt lui ra, hạ giọng.

“Tần Diễm là tổ tiên ta.

Chính sử ghi chép sai lệch nhiều.

Đoạn ngươi viết, bảy phần phù hợp bí truyền gia tộc.”

Hắn nhìn ta.

“Ngươi không giống kẻ cố ý phỉ báng.

Quyển sách này… rốt cuộc vì điều gì.”

Ta không rõ dũng khí từ đâu đến, nhìn thẳng hắn, giọng khàn đặc.

“Vì để nhớ.

Nhớ những người và những việc không nên bị quên lãng.”

Hắn lại trầm mặc thật lâu, cuối cùng nói.

“Án của ngươi có người lo liệu.

Tử tội có thể miễn, hoạt tội khó tránh.

Lưu đày ba nghìn dặm, đến Điền Nam.”

Ta không biết “có người” ấy là ai.

Là Tô nương tử.

Là người ký tên “Tranh”.

Hay là thiện duyên mẫu thân năm xưa kết lại mà ta chưa từng hay biết.

Ngày rời Tô Châu, trời lất phất mưa.

Ta mang mộc giáp nặng nề, bước trên quan đạo lầy lội.

Liễu ven đường đâm chồi non, lại một mùa xuân.

Quay nhìn lại, kinh thành đã xa, cố viên như mộng.

Phía trước mịt mờ, đất Điền Nam đầy chướng lệ, không biết chờ ta là cảnh tượng nào.

Nhưng kỳ lạ thay, lòng ta không còn quá nhiều sợ hãi.

Qua ngục hình, qua ranh giới sinh tử, có những thứ lắng xuống, trở nên rõ ràng và cứng rắn.

Mẫu thân dùng bước chân đo sơn hải.

Ta dùng bút mực vớt phục lưu.

Chúng ta đều chọn con đường ít người đi, đầy gai nhọn.

Người chưa từng lùi bước.

Ta cũng không thể.

10

Con đường lưu đày dài dằng dặc, gian truân muôn phần.

Những tù nhân đồng hành, kẻ trước người sau, lần lượt ngã gục bên đường.

Ta dựa vào một cỗ tâm khí chưa chịu tắt, cùng những tri thức thảo dược rời rạc ghi trong bút ký của mẫu thân, miễn cưỡng chống đỡ mà đi tiếp.

Khi đặt chân tới một trấn nhỏ nơi biên thùy Điền Nam, ta đã gầy mòn đến mức hình tiêu cốt lập.

Tiểu lại thổ ty phụ trách tiếp nhận xem qua văn thư, khẽ nhíu mày.

Thuận tay phân ta cho một hộ thợ làm gốm làm nô.

Chủ nhà là một lão đào tượng trầm mặc ít lời, họ Nham.

Ông có một nữ nhi tên A Nguyệt, nhỏ hơn ta mấy tuổi, đôi mắt sáng trong, nhìn ta đầy hiếu kỳ.

Nơi này trời cao hoàng đế xa, quy củ lỏng lẻo, ta lại có được chút tự do hiếm hoi.

Ta giúp Nham gia làm việc vặt, gánh nước, lấy đất, học những công việc thô thiển của nghề gốm.

Những lúc rảnh, ta ngồi trước căn nhà tre thấp bé.

Nhìn dãy núi xanh thẳm phía xa cùng mây mù lượn lờ, nhớ đến những dòng mẫu thân từng tả về Điền Nam.

Thân thể dần dần hồi phục.

Xung động chấp bút, như dòng phục lưu dưới đất, lại âm thầm dâng lên.

Không có giấy bút, ta liền mặc niệm trong lòng.

Một lần.

Rồi lại một lần.

Cho đến khi từng chi tiết khắc sâu tận cốt tủy.

A Nguyệt không biết chữ, nhưng thích nghe chuyện.

Ban đêm, bên bếp lửa, ta kể cho nàng nghe.

Kể về một nữ tử nhờ quan sát tinh tượng và thảo mộc mà phân biệt phương hướng.

Kể về một cách dệt đặc biệt khiến vải thêm bền chắc.

Kể về một nữ y tinh thông hái thuốc giữa núi sâu mà cứu người.

A Nguyệt nghe đến mê mẩn, mắt phản chiếu ánh lửa.

“A tỷ, những nữ tử ấy thật lợi hại. Đáng tiếc chẳng ai biết tên họ.”

“Phải.”

Ta nhìn ngọn lửa lay động, khẽ nói.

“Cho nên, phải có người nhớ.”

Nham lão cha đôi khi lặng lẽ lắng nghe, rít điếu thuốc khô, không nói một lời.

Cho đến một ngày, ông đưa cho ta mấy tấm đất mỏng dùng để nung gốm, cùng một con dao khắc.

“Khắc xuống đi.”

Giọng Hán của ông mang nặng khẩu âm, khàn đục.

“Ghi trong lòng không chắc bằng. Nơi này ẩm thấp, giấy chẳng giữ được.

Đất nung qua lửa, giữ được lâu.”

Ta sững sờ nhìn ông.

Ông nhả ra một làn khói, ánh mắt hướng về núi xa.

“Mẹ ta cũng biết kể chuyện.

Kể chuyện nữ nhân trong núi, tìm thuốc ra sao, đoán thời tiết thế nào, sống sót dưới miệng dã thú thế nào.

Bà nói nếu không ghi lại, về sau sẽ chẳng còn ai biết.”

Ông khẽ dừng.

“Bà chưa kịp khắc. Ngươi khắc đi.”

Ta nhận lấy tấm đất và con dao, đầu ngón tay run nhẹ.

Đây không phải giấy bút tinh xảo, mà là đất và lửa.

Thô ráp, lại mang chất cứng rắn như bàn thạch.

Ta bắt đầu khắc chữ lên tấm đất.

Từ câu chuyện của mẫu thân, khắc việc người rời khuê phòng, quan sát ghi chép, giúp đỡ những nữ tử kia.

Rồi đến A Nhược, Chu nương tử, nữ tử họ Bùi, nữ toán học gia nọ, Tần Diễm tướng quân.

Là tất cả những cái tên và sự tích ta còn nhớ, còn tìm được.

Lưỡi dao rạch sâu vào đất, phát ra tiếng sàn sạt như lời thì thầm của năm tháng.

A Nguyệt giúp ta phơi khô những tấm đất đã khắc, rồi đưa vào lò cùng đồ gốm mà nung.

Lửa bốc lên, đem những cái tên và câu chuyện ấy nung vào đất cứng.

Từng tấm một.

Những tấm đất thô ráp dần chất đống nơi góc nhà.

Ta không biết chúng rốt cuộc sẽ đi về đâu, có thể lưu giữ bao lâu.

Nhưng ta biết, ta đang làm điều mẫu thân mong muốn, cũng là điều vô số nữ tử trầm mặc từng mong có người làm.

Để “tồn tại” được ghi nhớ.

Dẫu chỉ bằng cách nguyên sơ nhất, khắc trên thứ đất hèn mọn nhất.

Trong ánh lửa, ta như thấy mẫu thân, thấy vô số bóng hình tựa người, đang mỉm cười.

Phục lưu vô thanh, cuồn cuộn tiến về phía trước.

11

Hồi kết: Một nửa sơn hải.

Buổi sớm nơi công trường khảo cổ Điền Nam năm ấy đã đổi thay tất cả.