“Có dạy.” Ta đáp, “Nhưng không phải đọc theo sách rồi giảng suông. Thế tử nghịch ngợm, ngồi chẳng yên. Thiếp thân bèn hòa những thứ ấy vào trò chơi. Xếp cát thành núi, chỉ vào chữ ‘sơn’; đắp nước thành ao, nhận biết hình của chữ ‘thủy’; diễn trò ‘khổng dung nhường lê’ để khiến nó hiểu lễ nhường nhịn. Sách là vật chết, người là sống.”

Mày Trương học sĩ dãn ra đôi chút: “Dạy học tùy theo tài năng từng người?”

“Chính là vậy!” Ta vội vàng thuận thế mà nói, “Tính tình trẻ nhỏ mỗi đứa mỗi khác. Thế tử hiếu động, tò mò, nếu ép ngồi yên trước án thư, chỉ càng sinh phản nghịch. Thuận theo bản tính, dẫn dắt hứng thú, gieo mầm ham học trong trò chơi. Đợi tâm trí lớn hơn đôi chút, nền móng đã vững, rồi lại truyền thụ đạo lý thánh hiền, như thế mới có thể làm ít được nhiều, nước chảy thành sông.”

Ta nói một hơi không ngừng.

Khô cả cổ họng.

Sau lưng cũng ướt đẫm mồ hôi.

Trong điện lần nữa chìm vào im lặng.

Ba vị đại nhân vật nhìn nhau trao đổi ánh mắt.

Trong mắt họ đã không còn sự bài xích lúc ban đầu.

Thay vào đó là dò xét, suy ngẫm, thậm chí… một tia rất nhỏ… tán đồng?

Lý Thái phó đặt cuốn sách vải xuống, khẽ thở dài một hơi.

Khi nhìn về phía ta, ánh mắt ông ấy dường như đã có thêm đôi phần ấm áp.

“Lời của Trắc phi họ Thẩm tuy mộc mạc, nhưng… đánh trúng chỗ tệ của thời nay.”

“Khai trí cho trẻ nhỏ, quả thực không thể một mực thúc ép như nhổ mạ non, trước hết phải củng cố gốc rễ, bồi dưỡng hứng thú.”

Vương Tế tửu cũng vuốt râu gật đầu: “Lấy việc học làm trò vui, thuận theo tính nết mà dẫn dắt… Lão phu thấy khí tượng gần đây của Thế tử, quả thật khác với trước kia. Hoạt bát mà không mất thông minh, hồn nhiên mà dần hiểu chuyện. Phương pháp này… có lẽ có chỗ đáng để tham khảo.”

Trương học sĩ không lên tiếng, nhưng sắc mặt cũng dịu đi không ít.

Đi ra khỏi thiên điện của Văn Hoa điện.

Ánh mặt trời đầu hạ rọi lên người.

Ấm áp dễ chịu.

Vậy mà ta lại như vừa bị vớt từ dưới nước lên, hai chân mềm nhũn.

Trên xe ngựa trở về vương phủ.

Ta tựa vào vách xe, nhắm mắt.

Trong đầu vẫn không ngừng tua lại ánh mắt sâu khó lường của ba vị đại nhân vật kia.

Trời mới biết ta đã sống sót đi ra bằng cách nào.

Về tới tiểu viện cá mặn của ta.

Khải Minh như một viên đạn nhỏ lao vút tới.

“Nương nương!”

Nó ôm chặt lấy chân ta, ngước khuôn mặt nhỏ lên: “Hoàng bá bá… hung hung?”

Ta sững người.

Sao nó biết ta đi gặp người của hoàng đế?

Tống ma ma ở bên cạnh cười giải thích: “Sau khi người vào cung, Thế tử cứ ngồi đứng không yên, lẩm bẩm ‘nương nương sợ sợ’, còn nói chỗ hoàng bá bá có ‘mấy lão gia gia hung dữ’…”

Trong lòng ta bỗng ấm lên.

Ta khom người xuống, nhéo nhéo đôi má mềm mềm của nó.

“Không sợ. Mấy lão gia gia ấy… không hung nữa rồi.”

“Thật ạ?”

“Ừ.” Ta bế nó lên, chỉ vào cây lựu trước sân vừa kết quả xanh.

“Con nhìn xem, lúc hoa lựu nở, đỏ rực rỡ như lửa, có đẹp không?”

“Đẹp ạ!” Khải Minh gật đầu.

“Nhưng bây giờ nó đã đậu quả rồi, xanh xanh, cứng cứng, không đẹp nữa, đúng không?”

Khải Minh cau mày nhỏ nhìn quả lựu xanh, rồi gật đầu.

“Nhưng đến mùa thu,” ta mỉm cười nói, “nó sẽ chuyển đỏ, sẽ ngọt, bên trong toàn là những hạt như hồng ngọc vậy.”

“Mấy lão gia gia cũng giống như cây lựu này. Trong đầu họ chứa đầy học vấn, như trái xanh non, trông nghiêm nghị, chẳng dễ gần. Nhưng đợi chúng ta từ từ hiểu rồi, sẽ phát hiện ra, bên trong đều là những báu vật ngọt ngào.”

Khải Minh nửa hiểu nửa không, chớp chớp đôi mắt to.

“Báu vật?”

“Ừ, là báu vật.” Ta cúi xuống hôn hôn lên trán nhỏ của nó.

Phong ba “giảng bài” ở Văn Hoa điện.

Đã truyền ra theo một cách ta hoàn toàn không ngờ tới.

Nghe nói.

Ba vị đại lão ở Thái phó viện sau khi trở về, đã đóng cửa nghiền ngẫm suốt mấy ngày.

Rồi sau đó.