Tôi bưng bát cơm đầy ụ, uống nước dừa thanh mát, chỉ cảm thấy vô cùng thỏa mãn, lại gắp thêm một miếng cá hồng.

Thanh niên trí thức đến trước nhìn tôi ăn ngấu ăn nghiến, nhìn nhau, dè dặt gắp một miếng cá.

Vừa mới nhấm nháp đã nhổ “phì phì phì” ra ngoài.

Bọn họ trợn trừng mắt kinh ngạc nhìn tôi: “Cô chưa từng ăn cơm à? Đồ ăn khó nuốt thế này mà cô cũng ăn được?”

Tôi vừa và cơm, đầu không ngẩng lên.

“Cơm này ngon biết bao nhiêu, may mà tôi đến hòn đảo, mới được ăn cá và rau xanh, còn có cả nước dừa để uống.”

“Nếu đi đến nơi khác, mùa đông còn có tuyết, vẫn coi như được uống ngụm nước sạch, chờ mùa xuân tan băng, thì chỉ có thể uống nước vũng bùn thôi.”

“Bảy tám tháng một năm là mùa đông, chứ đừng nói đến rau tươi, ngay cả cải thảo khoai tây trong hầm cũng đông cứng ngắc, hoặc là hầm một nồi to chảng, hoặc là chần qua nước sôi rồi chấm tương.”

Vừa nói, tôi vừa nhìn bát cơm trước mặt.

“Cơm trắng thì đừng hòng, ngoài bánh màn thầu, bánh bột mì thì chỉ còn cháo ngô, hạt to cộm, khó tiêu, nhưng chắc bụng.”

Nghe “xoảng” một tiếng, bát của nữ thanh niên trí thức ngồi đối diện rơi xuống đất.

Cô ấy lắp bắp: “Cô đừng dọa tôi nhé, làm gì có nơi nào mà mùa đông kéo dài tận bảy tám tháng chứ? Thế chẳng phải chết cóng người ta à.”

Tôi ngẩng đầu, lặng lẽ nhìn cô ấy một lúc, rồi cười——

“Có chứ, Bắc Đại Hoang.”

Chương 14

Ăn xong cơm về ký túc xá, tôi lấy nước ngâm thuốc lá sợi đã chuẩn bị từ trước phun quanh giường.

Một đêm ngon giấc, không có rắn chui vào chăn, muỗi bọ cũng ít đi.

Sáng hôm sau, tôi cùng các thanh niên trí thức khác ra đồng làm việc, thì phát hiện ruộng bậc thang của đội sản xuất đều là những mảnh nhỏ nằm rải rác.

Tôi có kinh nghiệm đào kênh sửa thủy lợi ở Bắc Đại Hoang kiếp trước, sự phân bố đồng ruộng như vậy tưới tiêu rất khó, dễ dẫn đến xói mòn đất, diện tích trồng trọt hiệu quả cũng nhỏ.

Suy nghĩ đắn đo, tôi nhân giờ nghỉ trưa, tìm đến đội trưởng đội sản xuất Thiệu Giải Phóng.

Sau khi tôi trình bày ngắn gọn suy nghĩ của mình với ông, ông nheo mắt nhìn tôi một lúc, rồi cười nói: “Cô nữ đồng chí này, cũng hiểu biết nhiều đấy chứ.”

“Vài ngày trước chuyên gia Bộ Nông nghiệp đến thị sát cũng nói vậy, đội đã nhận được chỉ thị rồi, chỉ là chưa bắt tay vào hành động thôi.”

“Cô đã có ý tưởng, thì cùng tôi xem thử, phân chia ruộng nước này thế nào cho hợp lý.”

Tôi quyết tâm làm nên chuyện lớn ở hòn đảo này, sống ra hồn con người, nên cũng chẳng giấu giếm gì.

Đội nắng trưa chói chang, tôi và đội trưởng Thiệu, vác một cây thước gỗ để đo đạc, đi lại trên ruộng bậc thang quá nửa ngày.

Tôi vừa đi, vừa đem những kinh nghiệm học được ở Bắc Đại Hoang kiếp trước, kết hợp với tình hình thực tế của ruộng bậc thang trên đảo, giải thích cặn kẽ cho ông.

“Đội trưởng Thiệu chú xem, ruộng bậc thang của chúng ta hiện nay phân bố tản mạn xuôi theo thế núi, mỗi mảnh ruộng đều phải dẫn nước tưới riêng.”

“Nước chảy từ chỗ cao xuống, đến mảnh ruộng thấp nhất dưới cùng thì chẳng còn lại bao nhiêu, tốt nhất là gộp những mảnh ruộng nhỏ này thành những mảnh ruộng bậc thang liền kề, dọc theo đường đồng mức đào một con kênh chính.”

“Như vậy, dọc theo con kênh chính, cách một đoạn chúng ta lại mở một nhánh rẽ thông vào từng mảnh ruộng bậc thang, thì nước tưới sẽ chảy đều vào mỗi mảnh ruộng.”

“Chú xem phía bên này nữa…”

Tôi và đội trưởng Thiệu bận rộn trên bờ ruộng suốt nửa buổi chiều, sự nghi ngờ trong mắt ông rốt cuộc cũng bị xua tan.

Khi tôi nói về hướng luống cày, quy hoạch mương tưới tiêu với lý lẽ rành mạch, tiện thể chỉ ra mảnh ruộng nào thường xuyên ngập úng do vấn đề độ dốc, mảnh ruộng nào khả năng giữ nước kém dễ bị hạn hán.

Tôi càng nói, sự tán thưởng trong mắt ông lại càng nhiều thêm.

Cuối cùng, đội sản xuất nhất trí thông qua bản vẽ quy hoạch luống ruộng của tôi, hoàn thành cải tạo ruộng bậc thang trên đảo.

Mùa thu năm đầu tiên xuống hòn đảo, tôi được bầu làm “Thanh niên trí thức xuất sắc”.

Bên kia, vùng đất đen Bắc Đại Hoang lại mưa rả rích.

Chỉ đạo viên đại đội mặc áo mưa, đội nón lá, đứng trên máy kéo, cầm loa hét lớn: “Mọi người cố gắng lên!”

“Hoa màu không thể để ngâm nước mưa thêm nữa! Nếu đậu nành bị mốc, là năm nay chúng ta làm công cốc rồi!”

“Nhanh lên! Mọi người nhanh tay lên! Hôm nay không thu hoạch xong chỗ đậu này, không ai được nghỉ ngơi!”

Tiếng máy kéo pành pành xé toạc màn mưa, hòa cùng tiếng hò hét của chỉ đạo viên, vang vọng trên mảnh đất đen bao la của Bắc Đại Hoang.

Một nửa là gốc rạ đậu đã cắt, một nửa là cây đậu nành chín vàng.

Đứng giữa ranh giới lởm chởm cắt dở đó, là những người lao động bán mặt cho đất bán lưng cho trời, đang cật lực vung lưỡi liềm.

Chu Minh Châu cũng ở trong số đó, nhưng lại bị đội ngũ bỏ xa tít tắp.

Những người phía trước đều cắt từ tận gốc cành đậu, chỉ sợ lãng phí một hạt đậu nào, còn cô ta thì vung liềm chém cây đậu tơi bời như để xả hận.

Vừa chặt vừa chửi rủa: “Đám vô dụng già nua! Một người thì vết thương cũ tái phát không xuống ruộng được, một người thì suốt ngày chỉ biết khóc lóc!”