Bố tôi vươn tay đón lấy đứa bé, dè dặt cẩn thận như đang nâng niu một khối ngọc mềm.
Thằng bé ngáp một cái trong vòng tay ông.
Chúng tôi không quay về căn nhà mà Chu Khải Minh từng sống.
Bản án trao cho tôi quyền ở chính và các thủ tục tiếp theo, nhưng tôi cần thời gian để dọn dẹp sạch sẽ nơi đó.
Tôi tạm thời về sống ở nhà bố mẹ.
Căn phòng ngủ nhỏ đã trải lại chăn ga mới, rèm cửa đổi thành màu xanh nhạt, nôi em bé đặt cạnh cửa sổ. Trên tường vẫn dán những tờ giấy khen hồi bé của tôi, mép giấy đã ố vàng, nhưng được mẹ tôi lau chùi rất sạch sẽ.
Đêm đến đứa bé khóc, mẹ tôi khoác áo ngồi dậy.
Tôi bảo để con lo.
Bà đứng ngoài cửa nhìn tôi thay bỉm, bỗng mỉm cười.
“Hồi bé con cũng thế, tính tình bướng bỉnh, lúc khóc ai bế cũng không chịu, nhất định đòi mẹ.”
Tôi cúi đầu cài nút áo nhỏ cho con.
“Thế sau đó thì sao ạ?”
“Sau đó con lớn lên, chuyện gì cũng bảo không cần mẹ.”
Nói xong, mắt bà lại ươn ướt.
Tôi ôm con đi tới, nhẹ nhàng tựa cằm lên vai bà.
“Từ nay về sau sẽ cần mẹ mà.”
Nói ra câu này, cả tôi và bà đều bật cười.
Có những mái ấm, phải sau khi trốn chạy ra ngoài mới biết rằng mình vẫn có thể quay về.
Tôi quay đầu nhìn lại tòa án.
Ba tháng trước, khi tôi nằm trên giường bệnh nhìn thấy tờ giấy báo nguy kịch giả mạo đó, Trịnh Quế Lan đã tưởng tôi sẽ sợ hãi.
Bà ta nghĩ một sản phụ vừa được cấp cứu xong chỉ biết khóc lóc, chỉ biết cầu xin, chỉ biết ký tên.
Chu Khải Minh tưởng tôi sẽ giống như trước đây, vì thể diện, vì con cái, vì một cái gọi là gia đình trọn vẹn, mà nuốt trọn mọi ấm ức vào lòng.
Hứa Nhu nghĩ rằng, chỉ cần cô ta bế qua con tôi, mặc qua áo sơ mi của anh ta, đăng một dòng “gia đình ba người”, là có thể lấn chiếm được một vị trí trong cuộc đời tôi.
Bọn họ đều sai rồi.
Không phải đến ngày hôm đó tôi mới học được cách phản kháng.
Chỉ là cuối cùng tôi không còn che đậy sự xấu xa cho họ nữa.
Trên đường về nhà, Thẩm Thanh Hòa gửi cho tôi một bức ảnh.
Là danh sách bằng chứng trong ngày ra tòa.
Mục thứ nhất:
Bản gốc giấy báo nguy kịch giả mạo.
Nhìn những dòng chữ ấy, tôi bỗng mỉm cười.
Đã từng có lúc, nó bị Trịnh Quế Lan ấn lên chăn của tôi, dùng để ép tôi từ bỏ căn nhà và đứa con.
Cuối cùng, nó được tôi nộp lên tòa án, tiễn bọn họ vào cuộc thanh trừng.
Ánh nắng ngoài cửa xe rất chói chang.
Tôi cúi xuống hôn lên trán con.
“Sau này,” tôi khẽ nói, “mẹ sẽ dạy con một chuyện.”
“Trước khi yêu người khác, hãy học cách bảo vệ chính mình.”
Tất nhiên, đứa bé không thể hiểu được.
Thằng bé chỉ nắm chặt ngón tay tôi.
Lần này, tôi không buông tay ra nữa.
Một tháng sau, thủ tục sang tên căn nhà tân hôn bắt đầu được xử lý.
Tôi mang theo bản án, CCCD và một xấp tài liệu đến trung tâm đăng ký đất đai.
Nhân viên tại quầy sau khi đối chiếu xong, ngẩng lên hỏi: “Chị có cần giữ lại thông tin liên lạc của người đồng sở hữu cũ không?”
Tôi đáp: “Không cần.”
Nói xong hai chữ này, trong lòng tôi bỗng trống rỗng một nhịp.
Không phải vì tiếc nuối.
Mà là một người từng chiếm giữ cuộc sống của mình suốt năm năm, cuối cùng cũng bị xóa bỏ dần qua những biểu mẫu, tài khoản và những danh xưng.
Hôm đó về nhà, tôi gói ghém toàn bộ những thứ liên quan đến Chu Khải Minh bỏ vào một chiếc thùng giấy.
Áo sơ mi, dao cạo râu, khung ảnh cũ, những chiếc cúp mà anh ta chưa kịp mang đi.
Cuối cùng, tôi lật giở được một cuốn nhật ký lúc mang thai.
Những trang đầu vẫn còn ghi:
“Hôm nay em bé lần đầu tiên đạp mẹ rõ ràng, Khải Minh bảo giống như một chú cá nhỏ.”
Càng về sau, nét chữ ngày càng ít.
Có một trang chỉ viết đúng một câu:
“Hôm nay khám thai, anh ấy lại không đến.”
Tôi nhìn hồi lâu, rồi gập cuốn nhật ký lại.
Không vứt đi.
Nó không phải là món đồ kỷ niệm về Chu Khải Minh.