Ta đứng dậy ra đón, hắn đã xách theo hộp thức ăn bước vào.
“Tô nương tử.” Hắn đứng dưới hiên, sắc trời chiều rơi trên người hắn, “Ta mang chút rượu và thức ăn đến, không quấy rầy chứ?”
“Thẩm đại nhân khách khí rồi.” Ta nghiêng người nhường hắn đi vào.
Xuân Hạnh nhận lấy hộp thức ăn, bày lên bàn đá trong viện.
Vài đĩa món ăn, hai bầu rượu, đơn giản mộc mạc.
A Uyên chạy tới chào một tiếng, bị Xuân Hạnh dắt vào trong phòng.
Tạ Lẫm ngồi xuống bên bàn đá, ta cũng ngồi xuống.
“Sao đột nhiên lại muốn uống rượu?” Ta rót cho hắn một chén.
Hắn nhận lấy, nhấp một ngụm: “Dạo này bận, mãi chẳng có thời gian. Hôm nay rảnh, nên đến ngồi một lát.”
Vài chén rượu vào bụng, lời hắn dần nhiều hơn.
Lớp vỏ lạnh nhạt thường ngày, như bị men rượu ngâm cho mềm đi.
“Tô nương tử, nàng có biết vì sao ta lại nhớ ngày hôm ấy ở Bảo Hoa tự không?”
“Vì sao?”
“Bởi vì đó là lần đầu tiên trong đời ta, có người che chở cho ta.”
“Phụ thân ta mất sớm, mẫu thân tái giá, ta ở trong chùa nương nhờ người khác, ai cũng có thể bắt nạt. Hôm ấy ta làm vỡ đèn, trụ trì định đuổi ta ra ngoài, ta cứ tưởng đời mình coi như xong rồi……”
“Rồi nàng đứng ra, nói sẽ thay ta bồi bạc.”
Ta lắng nghe, không nói gì.
“Ta trốn sau cột hành lang, nhìn nàng. Khi ấy ta nghĩ, trên đời sao lại có người như vậy, rõ ràng không quen biết ta, mà vẫn nguyện thay ta gánh trách nhiệm.”
“Ta chỉ là không vừa mắt chuyện ỷ mạnh hiếp yếu.”
“Ta biết. Nhưng với ta, đó là ơn cứu mạng.”
Hắn cười cười, ánh trăng rơi lên mặt hắn.
Ta cũng cười, nâng chén rượu lên chạm với hắn một cái.
Đêm ấy, hắn nói rất nhiều.
Hắn nói mình lớn lên trong chùa thế nào, thi đỗ công danh ra sao, rồi từng bước từng bước leo lên vị trí hôm nay.
Nói những năm ấy không ai giúp hắn, không ai che chở hắn, hắn một mình cắn răng đi qua.
Không biết từ khi nào, ánh trăng đã ngập đầy, phủ lên người hắn một tầng sáng.
Hắn tựa vào lưng ghế, như thể bao nhiêu thứ đè nén đã lâu, giờ được từ từ đổ ra từng chút một.
Mười sáu
Ngày tháng vẫn trôi như thường.
Đi tuần cửa hàng, kiểm sổ sách.
Tạ Lẫm rảnh thì lại đến, lúc thì dạy A Uyên tính toán, lúc thì giúp xem sổ, lúc lại chẳng làm gì, chỉ ngồi uống chén trà.
Xuân Hạnh đùa: “Vị Đại Lý Tự đại nhân này, đúng là nhàn thật.”
Cho đến hôm ấy, Tống nương tử vội vội vàng vàng chạy đến tìm ta.
“Đông gia, xảy ra chuyện rồi.”
Ta đặt quyển sổ trong tay xuống: “Sao vậy?”
“Người của Đại Lý Tự tới rồi, nói muốn tra sổ sách của học đường.”
“Nói là có người tố cáo, trong số các cô nương học đường ta cưu mang có…… có nô tỳ bỏ trốn.”
“Sao có thể?”
“Ta cũng không biết.” Nàng gấp đến mức liên tục vò tay, “Bọn họ tra rất gắt, còn mang cả hộ tịch của các cô nương đi rồi. Mấy đứa như Xuân Ni bị dọa khóc thét, hỏi gì cũng không nói, chỉ biết khóc thôi……”
Ta đứng dậy.
“Người đâu?”
“Vẫn đang ở học đường.” Tống nương tử lau mồ hôi, “Vị quan gia kia nói, phải mang hộ tịch về tra trước, tra rõ rồi mới nói. Ta cản không nổi……”
Ta không nói gì, bước ra ngoài.
“Đông gia, người đi đâu vậy?”
“Học đường.”
Trong học đường loạn thành một nồi cháo.
Các cô nương ba ba hai hai tụ lại dưới hành lang, có người lau nước mắt, có người thì thầm bàn tán.
Thấy ta đi vào, tất cả đều vây lại.
“Đông gia, Xuân Ni các nàng có bị bắt đi không?”
“Đông gia, chúng ta có phải cũng sẽ bị tra không?”
“Đông gia……”
Ta giơ tay đè xuống.
“Đều về học tiếp đi.”
Các nàng ngẩn ra.
“Tống nương tử, đóng cửa lại. Nên học thì học, nên thêu hoa thì thêu hoa.”
Tống nương tử gật đầu, gọi các cô nương vào trong.
Ta đứng dưới hành lang một lát, rồi đi về phía phòng sổ sách.
Hộ tịch bị lục tung đến bừa bộn, rải đầy một bàn.