Đôi mắt ấy không le lói một tia sáng. Thứ sinh khí nhiệt huyết bừng bừng bồng bột, căng tràn sức sống mơn mởn mà một gã thiếu niên mười sáu tuổi vốn dĩ phải có, tuyệt nhiên không thể bới lông tìm vết thấy được trên người nó.
Tan triều, Bùi Thừa Dục không về tẩm cung. Nó bước sang Phượng Nghi cung. Đại môn Phượng Nghi cung sớm đã bị hàn chết từ ba năm về trước, toàn bộ đinh đồng đóng ghim chặt chẽ, hai cánh cửa gỗ bị khóa gông bằng dây xích sắt to tướng, trên dây xích mọc đầy những mảng rỉ sét xanh lè. Khe cửa ẩm mốc bốc lên một mùi xú uế mục nát hôi thối nồng nặc. Bùi Thừa Dục đứng chôn chân trước cánh cổng đóng chặt im lìm ấy, đứng thật lâu thật lâu. Rồi xoay người thả bộ về phía phế tích Vân Sơ cung.
Túp lều tranh cheo leo bên đống gạch vụn ngày trước vẫn còn y nguyên, chẳng ai dám tháo dỡ. Thi thoảng các đệ đệ muội muội của nó vẫn hay lui tới chốn này ngồi thẫn thờ một chốc. Tam công chúa thề cả đời không gả chồng, ngày ngày đều vác xác đến phế tích này ngồi lỳ suốt nửa buổi. Trong tay nó vĩnh viễn nâng niu chiếc áo rét mùa đông may dang dở, chiếc áo rét khuyết mất một bên ống tay áo, chiếc áo rét đường kim mũi chỉ xiêu vẹo ngốc nghếch. Nó từng ngàn lần dốc sức định ráp nốt ống tay áo kia vào, nhưng ngặt nỗi nữ công gia chánh của nó còn thảm hại hơn cả mẫu phi, may rồi lại tháo, tháo rồi lại may, loay hoay đến tận bây giờ vẫn chưa hoàn thiện xong xuôi.
Nhị hoàng tử đã cạo đầu xuất gia đi tu. Xuất gia rồi cũng chẳng được một ngày an lạc, cứ hễ trời trở bão đổ mưa là bàn tay phải lại đau buốt nhức nhối thấu xương. Vết thương đục đẽo dưới nền gạch gõ đến gãy xương nát tủy năm ấy, đã tổn thương tận gốc rễ, mang tật theo đến cuối đời không sao trị khỏi. Số hoàng tử công chúa còn lại cũng chẳng khả quan hơn là bao. Cả một bầy rồng phượng chẳng đứa nào chịu thú thê đính ước, cũng chẳng chịu thành thân gả chồng. Thái hậu nhiều phen khuyên răn, đại thần lắm lần dâng tấu can gián, thảy đều vô ích đàn gảy tai trâu. Bùi Thừa Dục chỉ quẳng lại đúng một câu: Đợi khi nào mẫu phi trở về rồi hẵng bàn nghị. Trăm họ ngàn người ai ai cũng tường tận trong tâm khảm, mẫu phi sẽ không bao giờ quay về. Nhưng tuyệt nhiên chẳng có ai dám to gan hé môi phun ra cái lời cay độc ấy.
Mùa đông chốn ngoại ải lạnh thấu xương thấu tủy, rét mướt gấp vạn lần kinh thành. Trận tuyết rơi đầu tiên của tháng Mười Một xối xả trút xuống ròng rã suốt ba ngày ba đêm. Con phố dài của thị trấn biên quan đìu hiu vắng ngắt, các cửa hiệu hàng quán thi nhau đóng cửa then cài im ỉm, ngay cả bầy chó hoang cũng chui rúc co ro dưới mái hiên trốn lạnh. Túp lều tranh lụp xụp ven đường kia đã sớm bị tuyết đè sập đổ ụp từ thuở nào, chỉ còn trơ trọi mấy gốc gậy gỗ cong queo cắm ngửa nghiêng trên mặt tuyết trắng.
Gã ăn mày vẫn chưa chịu nhấc mình dời bước. Hắn tựa mình vào một cái cọc gỗ co ro ngồi bệt trên lớp tuyết dày, tuyết phủ trên người mỗi lúc một dày đặc cộm lên thành từng lớp.
Hắn đã ngồi chết gí chốn này ròng rã hai ngày trời. Chẳng có người tốt bụng nào qua đường ném cho mẩu thức ăn, cũng chẳng có bóng chim tăm cá nào lảng vảng dấn bước qua trước mặt hắn. Bàn tay hắn vẫn siết khư khư viên trân châu và mảnh bạc vụn kia, ôm ghì nơi trước lồng ngực, những ngón tay đã đông cứng lại chẳng thể nào cạy mở ra nổi. Nhịp thở của hắn mỗi lúc một lụi tàn dần, luồng sương trắng nhả ra từ khoang miệng mỗi lúc một yếu ớt nhạt nhòa, hơi thở đứt quãng kéo dài lê thê hơn trước.
Lần trút hơi tàn cuối cùng, khóe môi hắn vẫn vẽ nên một nụ cười rạng rỡ. Đó là một đường cong vô cùng bé nhỏ nhẹ nhàng, y hệt như cái cách hắn cười mỗi bận vểnh tai nghe thấy nhịp vó ngựa quen thuộc vọng lại. Tuyết trắng đã hoàn toàn chôn vùi lấp kín thân thể hắn.