Tháng Tư ở Vô Tích luôn có mưa, giống hệt ngày hôm đó ở Đại Lý.
Nhưng tôi không còn sợ những ngày mưa nữa.
Vì không còn ai bỏ tôi lại trong mưa.
Và cũng vì, dù có ai bỏ tôi lại, tôi vẫn có thể tự gọi xe cho mình.
Hai năm nữa trôi qua, tôi ba mươi hai tuổi.
Không kết hôn, không bạn trai, thậm chí không hẹn hò.
Mẹ tôi đã từ bỏ việc giục cưới, thỉnh thoảng gọi điện chỉ hỏi tôi ăn cơm chưa, ngủ chưa, công việc có mệt không.
Bà nói: “Con thấy vui là được.”
Tôi đáp: “Con vui.”
Bà thở dài: “Vậy thì tốt.”
Bố tôi xen vào: “Mẹ con chỉ cứng miệng thôi, thực ra bà ấy vẫn muốn con kết hôn đấy.”
Mẹ tôi giành lấy điện thoại: “Im đi! Con gái vui là được, kết hôn hay không liên quan gì đến ông!”
Tôi ở đầu dây bên này mỉm cười.
Nắng ngoài cửa sổ rất đẹp, chiếu lên bàn làm việc mới của tôi.
Tôi lại được thăng chức.
Lần này không phải quản lý dự án, mà là giám đốc thiết kế.
Đội ngũ từ tám người tăng lên ba mươi người, chuyển sang văn phòng lớn hơn.
Ngoài cửa sổ không còn là rặng tre, mà là cả một con kênh dài.
Tôi ngồi trước cửa kính sát đất, nhìn những con thuyền du lịch qua lại trên sông.
Điện thoại rung, Khâu Thu gửi một bức ảnh.
Cô ấy chụp ở Tân Cương, đứng trên thảo nguyên Nalati, phía sau là núi tuyết, nụ cười rạng rỡ hơn cả mặt trời.
“Chị ơi, khi nào chị mới đến đây!”
Tôi trả lời một chữ: “Đợi.”
Cô ấy gửi một loạt dấu hỏi chấm.
Tôi mỉm cười gõ vài chữ:
“Đợi chị làm xong đợt này sẽ đi tìm em. Chúng ta cùng đi xem núi tuyết.”
Cô ấy trả lời ngay một chữ “Vâng” kèm theo một chuỗi dấu chấm than.
Tôi đặt điện thoại xuống, mở máy tính bắt đầu sửa phương án.
Ngoài cửa sổ, nắng thật đẹp.
Góc bàn, cuốn sách kẹp nửa bức ảnh vẫn lặng lẽ nằm đó.
Cùng với cô gái dưới cây hoa anh đào năm ấy.
Cô ấy cười thật ngây ngô, thật chân thành.
Cô ấy không biết sau này điều gì sẽ xảy ra.
Nhưng không sao cả.
Vì cô ấy của sau này, chắc chắn sẽ sống rất tốt.
Chắc chắn!