“Lúc ốm đau, tự mình đi bệnh viện xếp hàng, tự mình truyền dịch, y tá hỏi ‘Người nhà đâu’, bà bảo không có.”
“Sau đó bà không đến bệnh viện nữa. Bệnh vặt thì ráng chịu, bệnh nặng… cũng cố chịu.”
Mắt tôi nóng lên.
“Bà…”
“Đừng ngắt lời, nghe bà nói hết đã.”
Bà lướt trở lại, ngồi xuống đối diện tôi.
“Bà mất lúc bảy mươi tám tuổi. Chết cô độc ngay trong phòng khách này. Ba ngày sau người ta mới phát hiện ra.”
“Hàng xóm bảo ngửi thấy mùi, nên mới gọi cảnh sát.”
Lúc nói ra câu này, giọng điệu của bà rất bình thản, như thể đang kể chuyện của ai khác.
“Bà không sợ chết. Bà chỉ sợ chết rồi mà chẳng ai hay.”
“Sống cả một đời, đến lúc nhắm mắt xuôi tay ngay cả một người nhặt xác cũng không có.”
Nước mắt tôi trào ra.
“Ngày cháu dọn vào, bà đã nhìn thấy cháu.”
Bà nhìn tôi, đôi mắt rất sáng.
“Cháu chuyển nhà một mình, thùng đồ nặng quá bê không nổi, ngồi bệt xuống đất thở dốc. Bà nghĩ thầm trong bụng, con bé này giống hệt bà hồi trẻ, bướng bỉnh cứng đầu.”
“Sau đó cháu phát hiện ra bà, sợ quá vác dép lê định phang bà.”
Tôi phá lên cười trong nước mắt.
“Thì bà cũng đâu thể nửa đêm nửa hôm ngồi lù lù trong bếp thế được.”
“Ngày nào bà chẳng ngồi trong bếp, trước đây đâu có ai nhìn thấy bà.”
Bà cũng cười.
Cười xong, bà nhìn tôi rất nghiêm túc.
“An An, cháu hỏi bà vì sao lại tốt với cháu.”
“Bởi vì cháu là người đầu tiên dọn vào đây mà không sợ bà.”
“Trước đây cũng có người dọn vào, nhìn thấy bà là bỏ chạy té khói. Có một gã buôn bất động sản, ở được ba ngày, ngày nào cũng chửi thề hùng hổ, bà nhìn ngứa mắt, gã tự ngã gãy chân.”
“Chỉ có cháu, nhìn thấy bà phản ứng đầu tiên là vác dép phang bà, phản ứng thứ hai là hỏi bà có muốn uống nước không.”
“Một con ma, mà cháu đi hỏi nó có muốn uống nước không.”
Tôi ngượng ngùng gãi đầu.
“Lúc đó não cháu bị chập mạch…”
“Không phải chập mạch. Mà là tâm cháu thiện.”
Giọng bà rất nhẹ, nhưng rất nghiêm túc.
“Đời này bà không có con cái, không có cháu gái. Nhưng nếu bà có một đứa cháu gái, bà mong nó sẽ giống cháu.”
“Không sợ chuyện, không chịu thua, dẻo miệng, mềm lòng.”
“Nên bà muốn đem chút bản lĩnh tích cóp được cả đời này, dạy hết cho cháu.”
Tôi nhìn bà, không thốt nên lời.
“Cháu đừng nghĩ nhiều,” Bà lại trở về dáng vẻ lắm điều thường ngày, “Bà chỉ là rảnh rỗi thôi. Một con ma ở trong nhà mấy chục năm, không tìm việc gì làm, chán muốn chết luôn ấy chứ —— à, bà đã chết rồi.”
Tôi bật cười.
Cười rồi cười, nước mắt lại rơi.
6.
Đêm đó tôi không ngủ.
Không phải không ngủ được, mà là không muốn ngủ.
Bà Chu ngồi trên sô pha phòng khách xem tivi, tôi ngồi bên cạnh, ôm chiếc gối tựa.
Tivi chiếu một bộ phim thời xưa rất cũ, bà xem rất chăm chú.
“Bà ơi, hồi trẻ bà tự mở tiệm may thật ạ?”
“Ừ. Bắt đầu từ việc bày sạp, sau đó thuê một cái mặt bằng, sau nữa thì mua được căn nhà này.”
“Đỉnh quá.”
“Đỉnh cái gì, chẳng qua là chết đói không được thôi.”
Miệng bà thì nói vậy, nhưng tôi thấy khóe môi bà hơi nhếch lên.
“Vậy bà… chưa từng nghĩ đến việc nhận nuôi một đứa trẻ sao?”
Bà im lặng một lát.
“Từng nghĩ rồi.”
“Sau đó thì sao ạ?”
“Sau đó đi hỏi, người ta bảo phụ nữ độc thân không đủ điều kiện.”
Giọng bà đều đều.
“Thời đó là vậy. Đàn bà chưa chồng, ngay cả tư cách nhận nuôi con cũng không có.”
Tôi há miệng, chẳng biết nói gì cho phải.
“Đừng có thương hại bà,” Bà lườm tôi một cái, “Chu Tú Lan bà đây cả đời này sống không tệ chút nào. Có tay nghề, có nhà cửa, muốn ăn gì thì ăn, muốn đi đâu thì đi. Còn hơn đứt mấy kẻ lấy chồng xong ngày nào cũng bị chửi mắng.”
“Chỉ là…”
“Chỉ là cái gì?”
“Chỉ là hơi cô đơn thôi ạ.”
Bà không đáp lời.
Bộ phim cũ trên tivi vừa khéo chiếu đến cảnh đón Tết, cả nhà quây quần bên bàn gói sủi cảo, rộn rã náo nhiệt.