Đến tuần thứ ba, tôi nhận được một bưu kiện anh gửi đến. Bên trong là một chiếc khăn quàng màu xám nhạt, sợi len đan không đều lắm, mũi đan hơi lệch.

Kèm theo một tờ giấy nhỏ: “Anh học đan, đan không đẹp. Trời lạnh rồi em quàng vào. Gần đây huấn luyện quá bận, viết thư ít, đừng trách anh.”

Tôi lấy khăn quàng ra đặt trên đùi, nhìn những mũi đan xiêu xiêu vẹo vẹo ấy. Ngón tay khẽ vuốt qua hoa văn len, bỗng cảm thấy lồng ngực nghẹn đến khó chịu.

Tôi gấp khăn lại bỏ về bưu kiện, cùng chiếc kẹp tóc kia cho vào một phong bì giấy kraft, viết một dòng trên phong bì, rồi ra cửa đến bưu điện.

Một tuần sau, Thẩm Viễn Chinh nhận được phong bì đó.

Khi mở ra, ngón tay anh hơi cứng lại.

Bên trong là chiếc khăn quàng do chính tay anh đan và chiếc kẹp tóc hoa mai kia, bọc trong một tờ giấy thư mỏng.

Trên giấy chỉ có mấy dòng:

“Thẩm Viễn Chinh, chuyện Tô Miêu Miêu đến tìm anh, tôi đợi anh nói với tôi. Đợi ba tuần, anh không nói gì cả.”

“Chiếc khăn quàng tôi đã nhận được, cảm ơn. Nhưng thứ này trả lại anh, tôi không cần nữa.”

“Tôi định kéo dài một năm tu nghiệp thành nhiệm vụ biệt phái, ngày về chưa định. Anh cứ dẫn quân cho tốt, đừng đợi nữa.”

Thẩm Viễn Chinh siết mấy tờ giấy kia đứng trong ký túc xá. Ánh nắng ngoài cửa sổ chiếu vào, rơi trên sàn một mảng sáng rực, nhưng anh lại cảm thấy quanh người lạnh ngắt.

Anh cúi đầu nhìn chiếc kẹp tóc hoa mai bạc trong lòng bàn tay. Góc cánh hoa cấn vào đầu ngón tay, truyền đến một cơn đau âm ỉ.

Anh bỗng nhớ đến đêm Tô Miêu Miêu đến tìm anh.

Cô ta tìm anh nói có một thứ muốn trả lại cho anh.

Là mấy bản nháp điện báo cũ. Cô ta nói giữ lại cũng vô dụng, vứt đi thì tiếc, vẫn nên trả cho anh.

Anh nhận lấy, nói một tiếng “cảm ơn” rồi đi, ngay cả nói thêm một câu cũng không nói với cô ta.

Anh cứ tưởng chuyện này không có gì, không đáng đặc biệt viết thư nói với Khương Thu Nguyệt ở xa thủ đô, tránh để cô nghe xong trong lòng không vui.

Nhưng anh quên mất, thứ Khương Thu Nguyệt ghét nhất chính là anh giấu cô.

Anh đứng trong căn ký túc xá hướng nam kia, ngoài cửa sổ tiếng binh sĩ trên sân tập hô khẩu hiệu từng đợt truyền vào.

Anh áp chiếc khăn quàng lên ngực mình. Trên đó dường như vẫn còn lưu lại chút hơi ấm nơi đầu ngón tay tôi, nhưng chút hơi ấm ấy rất nhanh tan đi, giống như cát nắm trong lòng bàn tay, càng siết chặt càng trôi mất nhanh.

Anh đã làm gì vậy?

Từ khi phát hiện bản nháp điện báo đến bây giờ, gần hai năm, anh từ phương Nam đuổi đến phương Bắc, viết gần năm mươi lá thư, tự tay đan một chiếc khăn quàng, anh nói “anh yêu em”, anh tưởng anh đã theo đuổi Khương Thu Nguyệt trở về.

Nhưng anh quên mất, lòng tin là thứ, một khi đã vỡ một lần, phải dùng cả đời để vá lại.

Anh tưởng anh đã vá xong, thật ra vết nứt trong lòng cô chưa từng thật sự khép lại.

Đêm Tô Miêu Miêu xuất hiện kia chỉ khẽ chạm một cái, vết nứt ấy lại mở ra.

Thẩm Viễn Chinh ngồi trong ký túc xá rất lâu, sau đó anh cầm bút máy, rút một tờ giấy viết thư, viết vài dòng rồi xé, viết rồi lại xé, cuối cùng chỉ để lại một tờ giấy, trên đó viết bốn chữ:

“Anh biết rồi.”

Anh gửi đi.

Lá thư đó tôi đã nhận được.

Tôi mở ra nhìn một cái, đặt cả phong bì lẫn giấy thư vào ngăn kéo, để cùng những lá thư trước kia anh viết.

Tôi đóng ngăn kéo rất nhẹ, rồi đứng dậy phủi vạt áo, xoay người đi ra khỏi ký túc xá.

Ngoài hành lang nắng vừa đẹp. Tôi đi đến trước cửa sổ đứng một lúc, nhìn lá cây dương ngoài cửa sổ lật mặt bạc trắng trong gió, kêu xào xạc.

Tôi lấy từ trong túi ra một tờ giấy khác đã gấp lại, mở ra, ký tên mình vào cột chữ ký.

“Đơn xin nhiệm vụ biệt phái dài hạn — Phê chuẩn.”

Tôi viết xong, gấp giấy lại bỏ về túi, rồi ngẩng đầu nhìn bầu trời trên cao.

Trời rất cao, rất xanh, mây mỏng như bông bị xé vụn rải trong gió.

Gió ngoài cửa sổ rất lớn, thổi lá dương lật qua lật lại, như vô số bàn tay màu bạc đang vẫy chào tôi.

Tôi đứng trước cửa sổ, gió thổi tóc con trước trán tôi bay lên, để lộ vầng trán sạch sẽ—

Ở đó không còn dấu vết của chiếc kẹp tóc hoa mai nữa.

Tôi đẩy cửa sổ hé một khe, gió xuân tràn vào, mang theo mùi hạt cỏ và đất bùn.

Tôi hít sâu một hơi. Hơi thở ấy lấp đầy lồng ngực tôi, vừa trong vừa lạnh.

Tôi xoay người, đi xuống lầu.

Cánh cửa ấy khép lại sau lưng tôi, từ đó không còn mở ra nữa.

Từ nay về sau, khoảng cách giữa phương Nam và phương Bắc không phải ngàn dặm gió tuyết, không phải núi sông xa xôi, mà là buổi sáng tôi không bao giờ quay đầu nữa.

Khi tôi đi xuống lầu, tôi không quay đầu.

Khi anh đợi ở nơi cũ, anh cũng không đuổi theo nữa.

Có những con đường đi đến cuối chính là cuối.

Có những người nói hết rồi chính là hết.

Sau này Thẩm Viễn Chinh điều về Quân khu phía Nam, trả lại chìa khóa căn nhà gia đình quân nhân hướng nam kia cho hậu cần.

Chính ủy Triệu hỏi anh không ở nữa à?

Anh lắc đầu nói, không ở nữa.

Anh không nhắc đến tên tôi, chỉ là từ đó về sau, trong túi anh vĩnh viễn mang theo một dải lụa đỏ cũ. Mép đã mòn đến xù lên, nhưng anh vẫn luôn không nỡ vứt.

Tôi ở phương Bắc rất nhiều năm.