Quy củ thứ tư, việc nhà có thể giúp, nhưng không được làm ảnh hưởng việc học.

Quy củ thứ năm, bất kể ai đến đòi tôi, tôi đều phải trốn vào trong phòng trước, không được tự mình xông ra cãi lý.

Quy củ thứ sáu, giấy tờ phải giữ cẩn thận, không để người khác cướp mất đường sống của mình.

Quy củ thứ bảy, có chuyện gì phải nói ra.

Quy củ thứ tám, không được coi mình là đứa trẻ không ai cần nữa.

Khi viết đến điều cuối cùng, nước mắt tôi rơi tí tách trên mặt giấy.

Nét mực hơi nhòe đi một chút.

Mợ không bắt tôi lau đi.

Mợ nói: “Nhòe một chút cũng chẳng sao.”

“Đời người, ai đi trên đường mà chẳng có lúc rơi nước mắt.”

“Chỉ cần không khóc đến mờ cả mắt, thì vẫn còn có thể tiến về phía trước.”

Đêm đó, tôi ngủ trên chiếc giường nhỏ ở phòng phía đông.

Chăn thơm mùi nắng mai.

Cổng viện được cài then then rất chặt.

Gió rít ngoài cửa sổ, tôi không còn bị giật mình tỉnh giấc nữa.

Tôi mơ thấy mẹ đứng ở một ngã tư đường rất dài.

Bà vẫn mang dáng vẻ trẻ trung như trong bức ảnh.

Bà mỉm cười với tôi, không nói lời nào.

Nhưng tôi biết bà muốn nói gì.

Tiểu Mãn, hãy cứ bước về phía trước con nhé.

19

Những ngày tháng trước kỳ thi sơ tuyển trôi qua rất nhanh.

Chân tôi đã đóng vảy, đi lại vẫn còn đau, nhưng đã có thể túc tắc đến trường.

Sáng nào mợ cũng nấu cháo đặc sệt, rồi nhét thêm cho tôi một quả trứng gà.

Ban đầu tôi toàn muốn để dành trứng lại.

Mợ hễ thấy lần nào là gõ đũa vào mép bát lần đó.

Mợ bảo, đi học cũng tốn sức lắm, bụng mà trống rỗng thì đầu óc cũng rỗng tuếch.

Nghe lời mợ, tôi dần học được cách ăn cho hết bát cơm.

Thầy Lưu vạch ra kế hoạch ôn tập riêng cho tôi.

Bạn cùng bàn cho tôi mượn vở ghi chép trên lớp, góc trang còn vẽ thêm một hình mặt cười nho nhỏ.

Chiều nào Hạ Đại Thành cũng đạp xe ra cổng trường đợi tôi.

Anh ấy ít nói, chỉ cặm cụi lau chùi ghi đông xe cho thật sạch bóng.

Có lần tôi bảo làm phiền anh ấy quá.

Anh ấy lườm tôi một cái, bảo người một nhà không nói những lời khách sáo đó.

Tôi ngây người ra mất một lúc lâu.

Ba chữ “người một nhà”, trước kia giống như một bức tường ngăn cách đẩy tôi ra ngoài.

Bây giờ nó lại giống như ngọn đèn soi sáng con đường tôi về nhà.

Nhưng phía nhà họ Đường thì vẫn không được yên ả.

Trước tiên là có người trong làng tung tin đồn nhảm, bảo tôi bị nhà ngoại dạy hư rồi.

Lại có người bảo, con gái học nhiều đến mấy cũng vô dụng, cuối cùng cũng gả chồng theo người ta thôi.

Mợ nghe được, không đi cãi nhau từng nhà.

Mợ chỉ rửa rau ở đầu làng và bóng gió một câu, Tiểu Mãn thi không đỗ là chuyện của con bé, thi đỗ rồi thì mấy người cũng đừng có mà đỏ mắt ghen tị.

Từ hôm đó trở đi, lời ra tiếng vào cũng ít đi phần nào.

Nhưng Đường Hải Sinh vẫn đến trường.

Ông ta không vào lớp, chỉ đứng chôn chân ngoài cổng trường.

Lúc tan học bước ra, tôi thấy ông ta cầm một bức thư trên tay.

Ông ta đưa thư cho bác bảo vệ, bảo là bố đẻ viết gửi cho tôi.

Bác bảo vệ giao bức thư cho thầy Lưu.

Thầy Lưu không tự ý bóc thư, mà gọi tôi lên văn phòng.

Mợ cũng được mời đến.

Tôi nhìn bức thư đó, lòng thắt lại.

Nét chữ của Đường Hải Sinh rất lộn xộn, trên phong bì ghi rõ “Đường Tiểu Mãn đích thân mở”.

Mợ hỏi tôi có muốn xem không.

Tôi suy nghĩ một lát rồi gật đầu.

Mở thư ra, bên trong chỉ có vỏn vẹn nửa trang giấy.

Ông ta bảo tôi bất hiếu.

Ông ta bảo tôi hại ông ta nhục nhã không ngẩng mặt lên được với làng nước.

Ông ta bảo Liêu Hồng Mai vì tôi mà ngày nào cũng khóc, Đường Diệu Tổ đêm đến cũng khóc theo.

Ông ta bảo nếu tôi còn chút lương tâm nào, thì về nhà họ Đường nhận lỗi đi, đừng để người ngoài chê cười thêm nữa.

Câu cuối cùng viết nặng nề nhất.

Ông ta viết, trường Trung học số 1 huyện không phải là nơi dành cho những đứa trẻ nhẫn tâm như mày.

Đọc xong, mấy ngón tay tôi lạnh buốt.

Thầy Lưu tức giận đập lá thư xuống bàn.

Mợ lại không hề chửi bới.

Mợ gấp gọn lá thư lại, hỏi tôi: “Trong lòng cháu nghĩ thế nào?”

Tôi thỏ thẻ: “Cháu khó chịu lắm ạ.”

Mợ gật đầu.

“Khó chịu chứng tỏ trái tim cháu vẫn còn ấm.”

Tôi lại nói: “Nhưng cháu sẽ không về.”

Ánh mắt mợ dịu lại.

“Thế là đúng rồi.”

Mợ giao bức thư đó cho thầy Lưu, nhờ nhà trường lưu giữ lại.

Mợ nói, có những lời không phải viết cho con cái đọc, mà là viết cho người ngoài xem.

Thầy Lưu cũng đồng tình, lá thư này đúng lúc chứng minh việc Đường Hải Sinh vẫn đang ép tôi từ bỏ kỳ thi.

Ngày hôm đó tan học, tôi không khóc.

Tôi chỉ về nhà họ Hạ, mở sách vở ôn tập ra, mải miết viết cho đến khi đèn dầu cạn kiệt.

Lúc mợ châm thêm dầu vào đèn, mợ khẽ khàng bảo: “Tiểu Mãn, đừng vì tức giận ai mà đi thi.”

“Cháu phải đi thi vì chính bản thân mình.”

Tôi gật đầu.

Nhưng đúng hai ngày trước kỳ thi sơ tuyển, Liêu Hồng Mai bế Đường Diệu Tổ đến.

Bà ta không vào nhà, chỉ đứng ngoài cổng khóc lóc.

Bà ta bảo thằng bé ốm rồi, không có tiền khám bác sĩ.

Bà ta bảo Đường Hải Sinh bị trên thị trấn gọi lên làm việc, công trường cũng không dám nhận ông ta nữa.

Bà ta bảo tất cả những cơ sự này đều do tôi gây ra.

Mợ đóng chặt cổng viện, không cho bà ta vào.

Liêu Hồng Mai bỗng quỳ sụp xuống trước cổng.