Ôn Tự, vốn đã quen ăn ngon mặc đẹp, căn bản không chịu nổi cuộc sống cơm canh đạm bạc thế này. Nàng bắt đầu than vãn, bắt đầu khóc lóc om sòm.

Không còn ta, con kẻ ngốc cung cấp bạc tiền liên miên không dứt, phép tính “công bằng tuyệt đối” của Vệ Hoành, trước nghèo khó, rốt cuộc biến thành một trò cười lớn.

Nghe nói, có một lần Vệ Hoành khó khăn lắm mới kiếm được mấy đồng tiền, mua một cái bánh bao thịt.

Để thực hiện “công bằng” của mình, hắn nhất định phải bẻ cái bánh bao thịt thành hai nửa tuyệt đối bằng nhau, chia cho Ôn Tự một nửa.

Thế nhưng Ôn Tự lại vì miếng thịt trong nửa cái bánh ấy ít đi một chút mà cãi nhau với hắn một trận kịch liệt. Nàng mắng hắn là đồ vô dụng, đến một cái bánh bao nguyên vẹn cũng không mua nổi.

Vệ Hoành tức đến mặt mày xanh mét, tát nàng một bạt tai.

Người đàn ông từng thề rằng tuyệt đối sẽ không để Ôn Tự chịu dù chỉ nửa phần ấm ức, cuối cùng vẫn cúi đầu trước cuộc sống.

Ngày tháng của bọn họ, cứ thế trong những lời trách cứ và cắn xé lẫn nhau ngày qua ngày, mục nát đến tận bùn lầy.

Tám

Ba năm sau, một trận tuyết đông rơi xuống đặc biệt lớn.

Ta ngồi trong các ấm ở lầu hai của Minh Sương Các, trong tay ôm lò sưởi tay bằng sứ xanh trắng tinh xảo, đang lật xem sổ sách của tháng này.

Ngoài con phố bên dưới, người đến người đi, náo nhiệt vô cùng.

Nhẫn Đông vén rèm bông dày bước vào, mang theo một làn gió lạnh. Nay nàng đã là đại chưởng quầy của Minh Sương Các, mặc một bộ áo váy gấm vóc gọn gàng, ánh mắt sáng rỡ.

“Đại tiểu thư, dưới lầu có một tên ăn mày, cứ lì ở ngay trước cửa không chịu đi, hộ viện đuổi mấy lần cũng vô ích. Hắn nói… hắn nói muốn gặp người một lần.”

“Ăn mày?” Ta khẽ nhíu mày. Minh Sương Các làm ăn cao cấp, bình thường canh cửa rất nghiêm, loại ăn mày tầm thường không dám đến gần.

“Là… là Vệ Hoành.” Nhẫn Đông cắn môi, thấp giọng nói.

Bàn tay đang lật sổ sách của ta khựng lại đôi chút.

Vệ Hoành.

Cái tên này, ta đã rất lâu không nhớ tới nữa. Lâu đến mức ta gần như sắp quên mất thiếu niên năm đó kéo ta một tay trong hầm băng, cũng quên luôn tên điên đã chém phượng quan thành hai nửa ấy.

“Cho hắn vào đi.” Ta đặt sổ sách xuống, nhàn nhạt nói.

Chốc lát sau, một người đàn ông áo quần rách nát, thân đầy bùn đất bị hộ viện dẫn vào các ấm.

Nếu không phải Nhẫn Đông nhắc nhở, ta gần như không nhận ra người trước mắt chính là Định Viễn hầu năm ấy phong quang ý khí.

Tóc hắn đã bạc trắng, thân hình còng xuống, trên mặt hằn đầy những nếp nhăn sâu thẳm do gió sương và đao kiếm khắc nên. Đôi mắt đục ngầu, không còn chút thần thái nào của ngày trước.

“Minh Sương…” Hắn nhìn ta, giọng khàn đặc như tiếng hai tảng đá thô ráp cọ vào nhau.

Hắn thấy được các ấm xa hoa nơi ta ở, thấy được gấm vóc lụa là trên người ta, cũng thấy được vẻ mặt bình tĩnh ung dung của ta, thậm chí còn mang theo vài phần hồng nhuận cực tốt.

Trong mắt hắn thoáng qua một tia kinh ngạc, sau đó là sự hối hận và đau đớn sâu sắc.

“Nàng… nàng sống rất tốt.” Hắn cười khổ một tiếng, nước mắt theo gương mặt lấm lem mà lăn xuống.

“Có việc gì sao?” Ta không bảo hắn ngồi xuống, cũng không sai người dâng trà cho hắn. Đối với một kẻ xa lạ, thế đã là khách khí nhất rồi.

Hắn bịch một tiếng quỳ sụp xuống đất.

“Minh Sương, ta cầu nàng, cho ta ít bạc đi… Ôn Tự nàng ấy bị bệnh rồi, bệnh rất nặng, đại phu nói cần mua nhân sâm để cầm mạng… Ta thật sự hết cách rồi… Ta cầu nàng, niệm tình vợ chồng chúng ta mười năm…”

Hắn bò rạp xuống đất, chẳng khác nào một con chó vẫy đuôi khẩn cầu.

Ta nhìn hắn, trong đầu chợt hiện lên mùa đông năm ấy từ rất nhiều năm trước.

Vì muốn mua mực và giấy để lo lót quan hệ cho hắn, ta quỳ giữa trời tuyết, van nài chủ tiệm cầm đồ cho thêm mấy đồng tiền.