Là đích muội quỳ ở bên cạnh, dập đầu mạnh xuống nền gạch phát ra âm thanh ấy.
Hôm nay nàng bị hành hạ đến tâm thần rối loạn.
Tân đế lười biếng chống cằm, như có điều suy nghĩ, “Dạo này chiều ngươi đến mức càng lúc càng ham chơi, cũng đến lúc để cô vẽ bức thứ hai cho ngươi rồi.”
Lúc vẽ tranh, hắn xưa nay không cho ai ở bên.
Lục Thải Tiêm bị đưa xuống dưới.
Trong điện, nến cháy lay lắt, chỉ có bóng của ta và hắn dài dài ngắn ngắn in lên vách.
Theo lệ, trước khi đặt bút, ta chỉ có thể hỏi hắn một câu.
Ta xắn tay áo lên, không hề nghĩ ngợi.
“Huynh muội ruột thịt, máu mủ tình thâm, là giết, hay không giết?”
9
Khi Tạ Liễm đến gặp ta, sắc trời đã nửa tối.
Không biết hắn đã đả thông cửa nẻo gì, mà sau khi cung cấm đóng lại, vẫn có thể ra vào nội viên.
Ta mới vẽ được một nửa, đang ngồi nghỉ dưới hành lang, vô cùng chán nản mà rắc thức ăn cho cá xuống hồ.
Lúc này thấy hắn, vừa kinh vừa mừng, suýt nữa nhảy cao đến ba thước.
Hắn nắm lấy bàn tay lạnh băng của ta, khẽ hỏi, “Bệ hạ có làm khó nàng không?”
Chưa đợi ta đáp, hắn đã tự mình nói tiếp, “Ta biết, những ngày này nàng đã chịu rất nhiều uất ức.”
Ta nghiêng đầu nhìn hắn, “Tạ lang, lúc muội muội được chọn vào Ty Đan Thanh, chàng cũng từng nói với ta như vậy.”
Nữ tử trong triều này, vốn không thể tự mình mưu sinh.
Trước kia ở Túc Châu, ta đều lén lấy con dấu của Tạ Liễm, mượn danh hắn mà bán tranh.
Nhưng họa sư thì lại khác.
Vào được cung, làm nữ quan.
Ta liền có vốn liếng để an thân lập mệnh.
Có thể nói, Tạ Liễm là toàn bộ hy vọng của ta.
Ngày Ty Đan Thanh thẩm định tranh, ta soi bên giếng nước chải đầu thật cẩn thận, đội lên cây lược cũ của nương thân, thay một bộ xiêm y sạch sẽ.
Thế nhưng nữ quan kia lạnh mặt nói, trong danh sách căn bản không hề có tên thứ nữ nhà họ Lục.
Ta gấp đến xoay như chong chóng, cuối cùng lén chui vào từ cái lỗ chó ở chân tường.
Tranh của mọi người được xếp thành một hàng.
Bức Đồ Hạc Lệ của ta cũng ở trong đó.
Thế nhưng chỗ đề danh lại đóng con dấu của đích muội.
Các quan khảo đều nói, tiểu thư nhà Thượng thư quả nhiên dung mạo thanh tú, học vấn tinh thông, hạc tiên dưới bút cũng mang phong cốt thanh kỳ cao ngạo.
Tạ Liễm đứng một bên, khẽ giọng phụ họa là phải.
Ta lao lên trước, túm lấy tay áo hắn, ngây dại mà nói, “Chàng nói với họ đi, đây là tranh của ta, là của ta mà!”
Bao nhiêu ánh mắt dồn lên người ta, hoặc kinh ngạc, hoặc khinh bỉ.
Tạ Liễm chỉ nhàn nhạt nói một câu.
“Một kẻ ngốc nói lời ngốc, hà tất phải để trong lòng.”
Rõ ràng hắn biết hết.
Trong căn nhà nhỏ ở Túc Châu quanh quẩn mùi thuốc nhàn nhạt ấy, ta từng vẽ núi non xanh biếc ngoài cửa sổ, những con chim tròn xoe đậu trên cành.
Rồi đổi lấy vàng bạc thật sự, để hắn mua thứ thuốc trị thương tốt nhất.
Hắn cũng từng lau đi vệt mực dính trên má ta, khẽ hỏi:
“A Nùng, nàng đối xử tốt với ta như vậy, là vì sao?”
Thứ nữ điên dại ngu ngốc như ta, sau khi lạc mất một năm, bỗng chạy ra giữa nơi đông người để làm trò cười, rồi lại bị áp giải về Lục phủ.
Ma ma tát qua tát lại, đánh đến mức tai ta ong ong.
Mẫu thân ngồi trên ghế cao, chậm rãi thưởng trà.
Lục Thải Tiêm mỉm cười nhìn, nàng ta nói: “Tiện nhân thì vĩnh viễn là tiện nhân, không thể hóa phượng hoàng. Từ năm sáu tuổi ngươi đã thay ta vẽ tranh, thì phải thay ta vẽ đến chết. Bức Đồ Hạc Lệ kia là thế tử đích thân đưa đến phủ trong đêm, thật là phải đa tạ ngươi rồi.”
Nghĩ đến mọi chuyện khi đó, ta không khỏi run rẩy.
Tạ Liễm tưởng ta đau lòng, bèn hạ giọng thật nhẹ, như thể thật lòng xót thương: “A Nùng, đừng trách ta. Nàng chẳng hiểu gì cả, ham danh lợi chỉ hại nàng thôi. Đợi thêm ít bữa nữa, ta sẽ thu xếp cho nàng một chỗ ở yên tĩnh bên ngoài, giấu nàng, bảo vệ nàng. Chúng ta sẽ lại giống như ở Túc Châu vậy…