Có lẽ là tiếng khóc của tôi đã kinh động đến ông.

Cha tôi vậy mà chậm rãi mở mắt ra.

Ánh mắt ông đã tản mác, không còn tiêu cự.

Ông cố gắng tìm kiếm trong hang động.

Cuối cùng, ánh mắt dừng lại trên người ta.

“Vệ… Vệ Quốc…”

Giọng ông yếu ớt như tơ.

“Cha… con ở đây…” Tôi khóc không thành tiếng.

Ông muốn nhấc tay lên, xoa mặt tôi.

Nhưng ngay cả sức để nhấc tay, ông cũng không còn nữa.

“Đừng… đừng khóc…”

“Là cha… có lỗi với con…”

“Cha vô dụng… khiến con… khiến con gặp phải… tai họa lớn như vậy…”

“Về sau… về sau phải ngoan…”

“Nghe… lời ông già người thắp đèn… nghe… lời chú Sơn…”

“Giữ… giữ cho tốt… cái hạp…”

“Nhà chúng ta… không thể… không thể đứt hậu duệ…”

Hơi thở của ông ngày càng yếu ớt.

Ánh mắt cũng càng lúc càng mờ đi.

Ông nhìn tôi, khóe môi cố gắng kéo lên một chút.

Như thể đang cười.

Rồi, đầu ông chậm rãi nghiêng sang một bên.

Bàn tay đang nắm lấy ta cũng hoàn toàn mất sức.

Trượt xuống.

Cha tôi, đi rồi.

Vĩnh viễn rời xa ta.

Tôi nằm sấp trên người ông, khóc đến trời đất mịt mùng.

Cả thế giới như đều sụp đổ.

Sơn A Tứ lặng lẽ giúp cha tôi khép mắt lại.

Sau đó, ông ta đi đến bên bàn đá, lấy từ trong ngực ra một thứ.

Đập mạnh xuống bàn.

Là một lệnh bài bằng đồng xanh, hình con én.

Một mặt lệnh bài khắc những hoa văn mây phức tạp.

Mặt còn lại, là một chữ “lệnh” cổ xưa.

“Đây là gì?” người thắp đèn hỏi.

“Của Tôn Đức Hải.”

Giọng Sơn A Tứ lạnh như băng.

“Con đã giết hắn.”

“Lấy từ trên người hắn ra.”

“Trước khi chết hắn nói, chúng ta đều không chạy thoát được.”

“‘Người tiếp dẫn’ thật sự, sắp tới rồi.”

“Khối ‘chim én đồng’ này, chính là tín vật.”

Người thắp đèn lần mò, nhấc khối lệnh bài lên.

Ngón tay ông ta chậm rãi xoa trên bề mặt lệnh bài.

Trên mặt ông ta hiện lên vẻ kinh hoàng và nghi hoặc tột độ.

“Không đúng…”

“Lệnh bài này… là giả!”

“Cái gì?” Sơn A Tứ cũng sững sờ.

“Đây là do ‘chim sẻ rình tổ’ làm giả!”

Người thắp đèn đột ngột ngẩng đầu, hốc mắt trống rỗng kia như muốn phun ra lửa.

“Chúng ta đều bị lừa rồi!”

“Từ tên thợ mộc phương Nam ba mươi năm trước đã là một cái bẫy!”

“Bọn chúng không phải vì cướp ‘Thôn Kim Hạp’!”

“Bọn chúng là muốn dẫn ra ‘người tiếp dẫn’ thật sự, rồi thay thế hắn!”

“Tôn Đức Hải chỉ là một quân cờ, còn ‘người tiếp dẫn’ trong miệng hắn, là thủ lĩnh của bọn chúng!”

“Không ổn!”

Sắc mặt Sơn A Tứ biến đổi.

“Chúng ta phải lập tức rời khỏi đây!”

“Không kịp rồi.”

Người thắp đèn chậm rãi lắc đầu.

Ông nghiêng tai lắng nghe.

Ngoài hang động, truyền đến một trận âm thanh rất khẽ, như tiếng gió thổi qua rừng trúc “xào xạc”.

Đó không phải là gió.

Đó là tiếng bước chân của vô số người.

Bọn họ đã bao vây ngọn núi này.

21

“Người thắp đèn!”

Sơn A Tứ rút con dao ngắn bên hông ra, ánh mắt kiên quyết.

“Con dẫn đứa nhỏ đi đường mật đạo!”

“Ông ở lại đây, cầm chân bọn chúng!”

“Không.”

Người thắp đèn lại bình tĩnh đến lạ.

Ông chậm rãi đi đến bên giường đá, đưa bàn tay khô gầy ra, nhẹ nhàng vuốt qua gương mặt trắng bệch của cha tôi.

Như thể đang từ biệt một người bạn cũ.

“Ba trăm năm cơ nghiệp, không thể hủy trong tay chúng ta.”

“Mạch máu của nhà họ Vệ, cũng không thể cứ thế mà đứt được.”

Ông quay người, đối diện với chúng ta.

Trên mặt, vậy mà lại lộ ra một nụ cười.

Nụ cười ấy đặt trên khuôn mặt khô héo của ông, có vẻ vô cùng không hợp.

Nhưng lại mang theo một sự thản nhiên đã nhìn thấu sinh tử.

“Sơn A Tứ.”

“Nghe cho kỹ.”

“Chốc nữa, ta sẽ khởi động cơ quan cuối cùng ở đây.”

“Dầu đèn của ‘đèn trường minh’ là lấy từ ‘mỡ người cá’ ở Đông Hải, gặp đất đá là cháy.”

Toàn bộ hang núi, cùng với cả ngọn núi này, sẽ trong khoảnh khắc hóa thành một biển lửa và đất cháy.

Sẽ chẳng còn lại gì.

Các người chỉ có một nén hương thời gian để chạy thoát qua mật đạo.