Sơn A Tứ trả lời, lạnh lùng vô tình.
“Cũng là một con chim sẻ rình tổ tham lam.”
“Hai mươi năm trước, hắn cũng muốn cướp Thôn Kim Hạp, kết quả bị người giữ quy củ đời trước bắt được.”
“Phế hết công phu của hắn, dùng xích khóa hồn trói hắn lên cây ‘hòe âm’ kia.”
“Để hắn sống không được, chết không xong.”
“Vĩnh viễn chịu dày vò bởi đói khát và cô độc, để canh giữ con đường này.”
Nghe mà tôi sởn cả tóc gáy.
Việc này còn tàn nhẫn hơn giết hắn gấp trăm lần.
“Chúng ta đến rồi.”
Đúng lúc này, Sơn A Tứ dừng bước.
Tôi ngẩng đầu nhìn.
Chúng tôi đã đi tới tận cùng của thung lũng này.
Phía trước là một vách đá cao mấy chục mét.
Bóng loáng như gương, không một ngọn cỏ.
Là đường cùng.
“Đất tránh tai họa… ở ngay đây?” Cha tôi khó tin hỏi.
Sơn A Tứ không trả lời.
Ông ta đi tới dưới vách đá, dừng lại trước một bức tường đá thoạt nhìn chẳng có gì nổi bật.
Ông ta đưa tay lần mò trên vách đá.
Sau đó, theo một trình tự đặc biệt nào đó, dùng sức ấn xuống mấy hòn đá nhô lên.
“Cạch… cạch rắc…”
Một tràng âm thanh cơ quan khiến răng ê buốt vang lên.
Bức tường đá nhẵn bóng trước mặt chúng tôi, vậy mà từ giữa nứt ra một khe hở.
Khe hở càng lúc càng lớn.
Lộ ra một hang núi đen ngòm không thấy đáy.
Một luồng khí cũ kỹ pha lẫn mùi thảo dược và bụi đất từ trong hang ập thẳng ra.
Trong hang có một đốm đèn vàng vọt đang sáng.
Dưới ánh đèn, một bóng người già nua đang ngồi bên chiếc bàn đá.
Lặng lẽ chờ chúng tôi.
Như thể đã chờ rất lâu, rất lâu rồi.
Trong hang núi rất khô ráo.
Mùi thảo dược và bụi đất trong không khí không hề khó ngửi, ngược lại còn có tác dụng khiến người ta yên tâm.
Hang không sâu, liếc mắt là thấy tận cùng.
Ngoài chiếc bàn đá, một chiếc giường đá và mấy bó thảo dược khô treo trên vách tường ra, không còn gì khác.
Rất đơn sơ.
Bóng người già nua dưới ánh đèn chậm rãi ngẩng đầu lên.
Đó là một gương mặt như thế nào đây.
Già nua đến mức dường như đã thoát khỏi thời gian.
Làn da khô quắt như vỏ cây chết, dán chặt lên xương.
Lông mày và râu đều trắng như tuyết, lại rất dài, rủ xuống tận ngực.
Điều khiến người ta kinh hãi nhất là đôi mắt của ông ta.
Đôi mắt ấy đang nhắm chặt.
Mí mắt lõm sâu xuống, như thể bên dưới hoàn toàn không có nhãn cầu.
Ông ta là một người mù.
“Sơn A Tứ, con trở về rồi.”
Giọng của lão nhân, cũng cổ xưa như con người ông ta, như truyền ra từ một cái giếng cạn.
“Bẩm báo ‘người thắp đèn’, con đã trở về.”
Sơn A Tứ thu lại vẻ lạnh lùng và cảnh giác trên người, đối mặt với lão nhân, cung kính cúi mình một cái.
“Còn mang về hai tên ngu xuẩn gây họa nữa.”
Đầu của lão nhân khẽ xoay về phía tôi và cha.
Rõ ràng ông không nhìn thấy, nhưng ta lại có cảm giác đôi mắt không tồn tại ấy của ông đã nhìn thấu chúng ta từ trong ra ngoài.
“Hậu nhân của nhà họ Vệ?”
“Phải.” Cha tôi lấy hết can đảm, đáp một chữ.
“Đặt đồ lên bàn.” Lão nhân phân phó.
Cha tôi không dám chậm trễ, vội vàng bước lên trước, tháo bọc hành lý trên lưng ta xuống.
Ông cẩn thận đặt chiếc hộp gỗ được bọc bằng vải dầu lên bàn đá.
17
Lão nhân không lập tức đưa tay chạm vào.
Ông chỉ ghé sát mũi, khẽ ngửi ở phía trên chiếc hộp gỗ.
Động tác của ông, giống như đang thưởng thức một vò rượu ngon ủ lâu năm.
“Vải dầu, là của năm mươi năm trước.”
“Sợi dây gai, là của ba mươi năm trước.”
“Mùi tanh máu trên gỗ, là của hôm nay.”
“Cha cậu, cái lão già đó, vẫn thích làm màu như vậy.”
Lão nhân lẩm bẩm tự nói.
Sau đó, ông đưa tay ra.
Đó là một bàn tay còn khô quắt hơn cả khuôn mặt ông, giống như vuốt chim ưng.
Móng tay ông rất dài, hơi cong, ánh lên sắc vàng không khỏe mạnh.
Ông dùng móng tay dài ấy, nhẹ nhàng gõ lên nắp hộp gỗ.
“Cộc, cộc cộc.”
“Hộp không đổi, vẫn là món đồ cũ ba trăm năm trước.”