Nhân viên trong tiệm thấy hai mẹ con tôi ăn mặc giản dị, trong mắt lướt qua một tia khinh thường khó nhận ra.

Nhưng anh ta vẫn ra đón tiếp với thái độ nghề nghiệp.

“Hai vị muốn xem gì?”

“Anh ơi, tôi muốn hỏi thăm một chút.” Tôi lịch sự hỏi, “Anh có từng nghe nói đến cửa tiệm nào tên là ‘Tùng Thạch Trai’ không?”

Người nhân viên ngẩn ra một lúc, rồi lắc đầu.

“Tùng Thạch Trai? Chưa từng nghe.”

“Lưu Ly Xưởng chúng tôi lớn bé có hàng trăm tiệm, tôi chưa bao giờ nghe thấy cái tên đó.”

“Vậy anh có biết một bác thợ già nào được gọi là ‘Chung gia’ không? Cũng làm nghề buôn bán đồ cổ ấy.” Tôi hỏi dồn.

Vẻ mặt người nhân viên lộ rõ vẻ mất kiên nhẫn.

“Ở thành phố này những thợ già họ Chung thì thiếu gì, ai mà biết cô tìm ông Chung nào.”

“Nếu hai vị không mua đồ, thì đừng làm lỡ việc kinh doanh của chúng tôi.”

Nói xong, anh ta quay đi chào mời những vị khách khác.

Tôi và mẹ chuốc lấy bẽ bàng, đành phải quay ra.

Tiếp theo đó, chúng tôi gần như đi hỏi thăm khắp tất cả các tiệm đồ cổ lâu đời ở Lưu Ly Xưởng.

Câu trả lời nhận được đều giống nhau đến kinh ngạc.

“Chưa từng nghe.”

“Không biết.”

“Có phải các vị nhớ nhầm tên không?”

Mọi người đều nhìn chúng tôi như nhìn những kẻ lừa đảo đang mộng tưởng hão huyền.

Chạy vạy cả một buổi chiều, chúng tôi sức cùng lực kiệt, nhưng vẫn không thu hoạch được gì.

Ngồi trên băng ghế ven đường ở Lưu Ly Xưởng, nhìn dòng người qua lại nhộn nhịp, lần đầu tiên trong lòng tôi trào dâng một cảm giác bất lực.

Thủ đô quá lớn.

Biển người mênh mông, chúng tôi giống như hai hạt bụi nhỏ bé.

“Tùng Thạch Trai” và “Chung gia” chỉ tồn tại trong ký ức của mẹ tôi, liệu có thực sự tồn tại?

Có khi nào, đó chỉ là một lời hứa từ hơn ba mươi năm trước, nay đã bị tháng năm rửa trôi không còn tăm tích?

Tôi quay sang nhìn mẹ.

Tuy bà cũng lộ vẻ mệt mỏi, nhưng ánh mắt vẫn không hề dao động.

Dường như nhận ra sự chán nản của tôi, bà nắm chặt lấy tay tôi.

“Tiểu Thấm, kỹ sư Thẩm không phải là người ăn nói hàm hồ.”

“Những gì ông ấy đã nói, chắc chắn sẽ giữ lời.”

“Hôm nay không tìm thấy, ngày mai chúng ta đi Phan Gia Viên, Phan Gia Viên không thấy, chúng ta lại nghĩ cách khác.”

“Chỉ cần chúng ta không bỏ cuộc, nhất định sẽ tìm được.”

Nhìn khuôn mặt kiên nghị của bà, sự hoang mang và dao động trong lòng tôi dần dần tan biến.

Đúng vậy.

Chúng tôi đã bước qua được chặng đường gian nan nhất.

Giờ đây, ngoại trừ việc tiếp tục kiên trì, chúng tôi không còn lựa chọn nào khác.

Sau khi va vấp ở Lưu Ly Xưởng, mẹ con tôi không hề nản chí.

Hai ngày tiếp theo, chúng tôi lại đi đến chợ đồ cũ Phan Gia Viên và chợ văn hóa Báo Quốc Tự.

Phan Gia Viên đông nghẹt người, những quầy hàng vỉa hè san sát nhau, hoa mắt chóng mặt, thật giả lẫn lộn.

Chúng tôi tốn cả một ngày ở đó, gặp ai cũng hỏi, môi miệng nói rát cả ra.

Nhưng kết quả vẫn vậy, không một ai từng nghe nói đến “Tùng Thạch Trai”, càng chẳng có ai biết “Chung gia” là ai.

Thậm chí còn có một ông lão bày sạp hàng rong, nghe chúng tôi miêu tả xong liền ra vẻ nghiêm trọng dẫn chúng tôi đến một góc hẻo lánh, chỉ vào một gã bán đồ cổ giả rồi bảo đó là “Chung gia”, nhằm lừa chúng tôi mua đồ của hắn.

Cũng may mẹ tôi cảnh giác, liền kéo tôi rời đi ngay lập tức.

Cứ thế bôn ba suốt ba ngày liền, chúng tôi chạy khắp các khu chợ đồ cổ nổi tiếng ở thủ đô, nhưng một chút manh mối cũng không tìm ra.

Hy vọng dường như ngày càng trở nên mong manh.

Tối hôm đó, trở về khách sạn, hai mẹ con mệt đến mức không buồn nói chuyện.

Tôi nằm trên giường, trằn trọc mãi không sao chợp mắt nổi.

Khuôn mặt cay nghiệt của Cao Dương và Lý Phượng Hà, ánh mắt chấn động của bác thợ tiệm vàng, vết sẹo gớm ghiếc trên cánh tay mẹ, và cả vô số những khuôn mặt lạnh lùng, giễu cợt chúng tôi đã gặp mấy ngày qua, cứ