Trong phong thư là tám trăm tệ, không có giấy nhắn, không có bất kỳ lời giải thích nào.
Tôi nắm phong thư đó ngồi trong hành lang rất lâu.
Ánh nắng từ cửa sổ chiếu vào, chiếu lên con dấu bưu điện trên phong thư. Địa chỉ người gửi là một thành phố phương Bắc mà tôi chưa từng nghe.
Vân Vân ôm con, tôi bưng canh cá diếc đút cô ấy uống.
Cô ấy đột nhiên nói:
“Mẹ, có phải mẹ vẫn còn nghĩ đến Chu Triệt không?”
Tôi không ngẩng đầu:
“Nghĩ nó làm gì.”
“Vậy nếu anh ta quay về tìm mẹ thì sao?”
Tôi đặt bát lên bàn trà:
“Con bé, mẹ sống hơn nửa đời người mới hiểu ra một chuyện. Có vài người dù con moi tim móc phổi đối xử với họ, họ vẫn chê con vô dụng. Có vài người con chỉ cho cô ấy một bát mì, cô ấy ghi nhớ hai mươi năm. Sau này mẹ sẽ sống với người nhớ đến mẹ.”
Vân Vân cúi đầu, dùng trán cọ cọ vào mặt đứa bé:
“Vậy mẹ nhớ con, con cũng nhớ mẹ, ba mẹ con mình sống thật tốt.”
Gói đồ ở cửa phòng sinh kia tôi không nói với Vân Vân, số tiền trong phong thư tôi cũng không nhắc.
Có những chuyện đặt trong lòng tốt hơn nói ra, đáng hay không đáng, tôi nói không rõ.
Nhưng tôi biết sau này nên sống thế nào.
Điện thoại vang lên một tiếng, là tin nhắn trong nhóm đại học người cao tuổi, thông báo ngày mai có lớp thư pháp.
Tôi trả lời một câu “đã nhận”, rồi đặt điện thoại sang một bên.
Đứa bé ngáp một cái, cái miệng nhỏ xíu mở thành một vòng tròn, rồi chậm rãi khép lại.
Vân Vân dựa vào người tôi nhắm mắt, hơi thở đều đều, như đã ngủ.
Tôi đắp chăn cho cô ấy, bế đứa bé đi đến bên cửa sổ nhìn ra ngoài.
Mùa xuân năm nay đến sớm, cây ngân hạnh đã nhú mầm non, từng chấm xanh điểm trên cành cây xám xịt.
Đứa bé trong lòng tôi cựa quậy, hừ hừ hai tiếng rồi lại ngủ.
Tôi nhìn hai mẹ con cô ấy, mỉm cười.
Đời này của tôi, hình như cũng chẳng còn gì tiếc nuối nữa.