Từ miệng Tần Sương, ta dần chắp vá nên một hình bóng Cảnh Vương trọn vẹn hơn.
Ngài mười hai tuổi ra chiến trường, mười lăm tuổi đã lập nên những chiến công hiển hách.
Ngài trị quân cực nghiêm, thưởng phạt phân minh, tướng sĩ trong đại bản doanh Hắc Sơn đều vô cùng kính sợ ngài.
Ngài thương xót bách tính, ở vùng Yên Châu nghèo nàn này, ngài cho khai hoang, khôi phục thủy lợi, được lòng dân sâu sắc.
Ngài giống như một con sư tử hùng dũng phục kích ở vùng đất phương Bắc, bề ngoài có vẻ sa sút, nhưng kỳ thực đã sớm biến vùng đất lạnh lẽo vạn dặm này thành giang sơn phòng tuyến vững như bàn thạch của riêng mình.
Càng hiểu rõ, ta lại càng kinh hãi.
Nhưng cũng càng thêm phần may mắn.
May mắn vì thuở ban đầu, ta đã cược đúng người.
Nửa tháng sau, vào một buổi sáng sớm tuyết lất phất bay.
Hắc Sơn Yếu Tắc, bỗng vang lên tiếng tù và trầm mặc đã lặng im từ lâu, một lần nữa rền vang tận chín tầng mây.
Tiếng tù và ấy, hùng hồn, bi tráng, nhưng lại mang theo niềm hân hoan kích động của kẻ chiến thắng khải hoàn.
“Là Điện hạ! Điện hạ trở về rồi!”
Tần Sương lao vào viện, trên mặt là sự mừng rỡ khó kìm nén.
Trái tim ta cũng nương theo tiếng tù và ấy, bỗng chốc treo lơ lửng nơi cuống họng.
Tới rồi.
Cuối cùng cũng tới rồi.
Ta không biết bản thân đang mang tâm trạng gì, cứ thế ngồi khô khan trong phòng suốt cả một buổi chiều.
Căng thẳng, mong chờ, lại mang theo một tia sợ hãi không thể nói thành lời.
Mãi đến lúc chạng vạng tối, lão giả đánh xe nọ, lại một lần nữa xuất hiện ở cổng viện.
Lão hướng về phía ta, cúi gập người thật sâu.
“Phu nhân, Điện hạ cho mời.”
Ta hít một hơi thật sâu, đứng dậy.
Ta thay bộ y phục tươm tất nhất đã mặc lúc trên đường tới đây.
Ta chải chuốt lại mái tóc cẩn thận, cài lên đó một cây trâm gỗ mộc mạc thanh nhã nhất.
Ta không trang điểm, chỉ đối diện với gương, nhìn khuôn mặt có chút nhợt nhạt tiều tụy vì ba tháng chờ đợi, nhưng ánh mắt lại sáng ngời khác thường.
Đối mặt với bản thân trong gương, ta nở một nụ cười nhàn nhạt, nhưng kiên định vô ngần.
Ôn Thư.
Không, Lâm Vãn.
Đây là ván cược cuối cùng của đời ngươi.
Chỉ được phép thắng, không được phép thua.
Ta theo chân lão giả, băng qua những tầng lớp doanh trại canh gác nghiêm ngặt, đi đến trước một tòa lầu nhỏ hai tầng bằng đá trông chẳng có gì nổi bật.
Nơi này, có lẽ chính là trung quân đại trướng của Cảnh Vương.
Bên ngoài lầu, tám tên thân binh mặc trọng giáp, khí tức trầm ngưng đang đứng gác.
Ánh mắt của họ, còn sắc lạnh hơn cả gió rét phương Bắc.
Lão giả tiễn ta đến cửa rồi lui xuống.
Ta một thân một mình, đẩy cánh cửa gỗ nặng nề kia ra.
Bên trong, không có sự xa hoa như ta tưởng tượng.
Sự bài trí đơn giản đến cực điểm.
Một chiếc bàn cát khổng lồ chiếm phân nửa căn phòng.
Trên tường không treo thư họa danh tiếng, mà là một tấm bản đồ quân sự khổng lồ vẽ trên da trâu.
Trong không khí vương vấn một mùi hương nhàn nhạt, pha lẫn giữa khói nhang và thảo mộc.
Một thân ảnh cao lớn, đang đứng quay lưng về phía ta, ngay trước bàn cát.
Ngài mặc một bộ trường bào màu huyền, mái tóc được buộc bằng một chiếc ngọc quan đơn giản.
Dáng vóc vững chãi, tựa như một thanh đao sắp sửa xuyên thủng cả vòm trời.
Chỉ là một bóng lưng, cũng đủ tạo cho người ta cảm giác áp bách như núi đè.
Ngài dường như nghe thấy tiếng bước chân của ta, chầm chậm quay người lại.
Trong khoảnh khắc ấy, nhịp thở của ta gần như đình trệ.
Đó là một khuôn mặt anh tuấn đến nhường nào, lại lạnh lùng đến mức nào.
Mày kiếm xếch cao, đôi mắt phượng dài hẹp.
Sống mũi cao thẳng tắp, hệt như lưỡi đao vát.
Bờ môi mỏng mím chặt, toát lên vẻ lạnh lùng và uy nghiêm bẩm sinh.
Làn da ngài, là màu đồng thiếc vì dãi nắng dầm sương quanh năm.