Con cái họ ở trường cũng bị cô lập và chỉ trỏ.
Một cơn bão dư luận chưa từng có nuốt chửng họ.
Bố tôi tuy không bị lộ thông tin trực tiếp, nhưng với tư cách “đồng phạm”, cũng chịu áp lực khủng khiếp.
Hàng xóm gặp ông đều tránh, sau lưng bàn tán.
Cơ quan gọi ông lên nói chuyện, yêu cầu tạm nghỉ để giải quyết việc gia đình.
Cả nhà họ Lâm trở thành chuột chạy qua đường, ai cũng ghét.
Khi họ đang rối bời, gần như sụp đổ vì dư luận, giấy triệu tập của tòa án được gửi tới.
Nhìn thấy tên nguyên đơn “Lâm Mặc”, họ mới bừng tỉnh.
Hóa ra tất cả đều do tôi đứng sau.
Họ gọi điện cho tôi trong cơn tức giận, nhưng điện thoại tôi đã không liên lạc được.
Họ đến công ty tìm nhưng không qua nổi cổng.
Họ đến nhà mới của tôi nhưng không biết địa chỉ.
Họ như thú hoang bị nhốt trong lồng, điên cuồng và bất lực.
Chỉ có thể nhìn mình bị ngọn lửa dư luận thiêu rụi.
Cùng lúc đó, Trần Dương dẫn cảnh sát và nhân viên dân chính tới ngôi làng hẻo lánh.
Trong một căn nhà kho tối tăm ẩm thấp bốc mùi, họ tìm thấy ông.
Ông nằm trên đống rơm, chỉ đắp chiếc áo khoác cũ.
Cả người đã nửa hôn mê.
Nếu chậm thêm một ngày có lẽ đã mất mạng.
Người họ hàng nhận tiền cũng bị khống chế tại chỗ.
Trước câu hỏi của cảnh sát, ông ta nhanh chóng khai hết.
Nhân chứng, vật chứng đầy đủ.
Tội danh bỏ rơi người già của bác cả và chú hai đã rõ như ban ngày.
Chờ họ là sự trừng phạt của pháp luật.
Ông được đưa khẩn cấp đến bệnh viện tốt nhất địa phương cấp cứu.
Nhờ nỗ lực của bác sĩ, ông lại một lần nữa thoát cửa tử.
Nhưng cơ thể đã hoàn toàn suy sụp.
Biến chứng liên tiếp xuất hiện.
Bác sĩ nói thời gian còn lại không nhiều, có thể một tháng, cũng có thể chỉ một tuần.
Khi tôi nhận điện thoại của Trần Dương, tôi đang xem báo cáo dự án.
“Ông muốn gặp cậu.”
Anh nói.
“Đây là câu duy nhất ông nói sau khi tỉnh.”
Tôi im lặng một lúc.
“Được.”
Tôi nói.
“Tôi sẽ tới.”
Đã đến lúc rồi.
Đã đến lúc khép lại vở kịch dài này.
14
Tôi bay tới thành phố nơi ông đang nằm viện.
Một thành phố nhỏ yên bình mà tôi chưa từng đặt chân tới.
Bệnh viện nồng mùi thuốc sát trùng.
Tôi đẩy cửa phòng bệnh bước vào.
Trên giường là một ông già hấp hối.
Người ông cắm đầy ống dẫn nối với những máy phát tiếng bíp.
Khuôn mặt gầy chỉ còn da bọc xương.
Hốc mắt trũng sâu, môi nứt nẻ.
Nếu không có lồng ngực khẽ phập phồng, tôi gần như nghĩ đó là thi thể.
Đó là ông nội từng oai phong của tôi.
Nghe tiếng cửa, ông khó khăn mở mắt.
Đôi mắt đục khi thấy tôi bỗng sáng lên.
Rồi nước mắt chảy ra không ngừng.
Ông mở miệng muốn nói, nhưng chỉ phát ra âm thanh khàn mơ hồ.
Tôi kéo ghế ngồi cạnh giường.
Chúng tôi lặng lẽ nhìn nhau.
Không nước mắt, không oán trách, không tha thứ.
Chỉ có tiếng máy bíp đều và hơi thở nặng nhọc của ông.
Rất lâu sau tôi mới nói:
“Ông có gì muốn nói không?”
Giọng tôi phẳng lặng như nước chết.
Ông kích động, cổ họng phát ra tiếng khò.
Ông dốc hết sức giơ bàn tay bầm tím vì kim truyền, chỉ vào ngăn kéo tủ đầu giường.
Tôi mở ra.
Bên trong là một chiếc hộp gỗ cũ đã bạc màu.
Tôi lấy ra, mở nắp.
Trong hộp là những món đồ của tôi.
Chiếc khóa trường mệnh tôi đeo khi tròn một tuổi.
Tấm giấy khen đầu tiên thời tiểu học.
Chiếc bút ông tặng tôi sinh nhật mười sáu tuổi.
Và một xấp thư buộc dây thun.
Đó là những lá thư tôi viết khi học đại học, kể cho ông nghe cuộc sống, niềm vui và phiền muộn.
Tôi không ngờ ông vẫn giữ.
Càng không ngờ ông trân trọng đến vậy.
Tim tôi khẽ bị chạm.
Không đau lắm, nhưng một cảm giác chua xót lan dần.
Ông nhìn tôi, ánh mắt đầy cầu xin và hối hận.
Ông khó khăn thốt từng chữ:
“Xin… lỗi…”
“Mặc… Mặc…”
“Ông… sai… rồi…”
Nói xong ông ho dữ dội, thở dốc.
Tôi lặng lẽ nhìn, không nói gì.
Một lời xin lỗi đến quá muộn.
Một tình thân đến quá muộn.
Đến cuối đời ông mới nhớ mình còn một đứa cháu gái,
một đứa cháu từng hết lòng yêu kính và mong chờ ông.
Nhưng đã quá muộn.