“Người một nhà mà,” tôi nói, “hé răng gì chứ.”
“Thế sao cháu còn giữ mấy cái hóa đơn đó?”
Tôi im lặng một lúc.
“Cháu cũng không biết,” tôi nói, “có lẽ chỉ là… muốn để lại cho mình một bằng chứng thôi. Lỡ như có một ngày không nói rõ được thì sao.”
Cô Lý sững người một lát, rồi khóc.
“Cháu đã sớm đoán sẽ có ngày này rồi à,” cô vừa lau nước mắt vừa nói, “một người con dâu, ở trong cái nhà này làm việc mười lăm năm, còn phải giữ bằng chứng để chứng minh mình không trộm tiền. Đây là nhà kiểu gì vậy.”
Tôi không đáp.
Câu nói này sau đó truyền ra ngoài.
Không biết là ai truyền, nhưng cả khu đều biết.
Lão Chu bán cá nói với tôi:
“Tiểu Sở, câu chuyện cái hộp sắt của cháu, tôi nghe mà khó chịu trong lòng. Sau này cháu đến mua cá, tôi sẽ chọn cho cháu con ngon nhất.”
Cô Lý bán bữa sáng mỗi sáng đều để riêng cho tôi hai cái bánh bao, không lấy tiền.
Đến cả lão Lưu sửa giày ở cổng khu dân cư nhìn thấy tôi cũng giơ ngón cái: “Người tốt, người tốt đó.”
Có một hôm, phóng viên báo địa phương đến.
Là chủ nhiệm Vương liên hệ, nói là muốn để nhiều người hơn biết chuyện này.
Phóng viên là một cô bé, hơn hai mươi tuổi, buộc tóc đuôi ngựa, trông rất trẻ.
Cô ấy ngồi trên ghế sofa nhà tôi, cầm sổ tay hỏi tôi:
“Chị Sở, lúc đó tại sao chị lại tự bỏ tiền ra?”
“Sợ em chồng thấy đắt.” tôi nói, “Người tên Trương Mẫn này, cái gì cũng thích đem ra so với người khác. Nhà bên cạnh thuê hộ công 1500, nếu tôi nói giá thật 4500, chắc chắn cô ấy sẽ làm ầm lên.”
“Vậy chị có thấy uất ức không?”
Tôi nghĩ một lát.
“Có từng uất ức.” tôi nói.
“Khi nào?”
“Ngày tấm thông báo được dán lên.” tôi nói, “Tôi đứng ngoài đám đông, nghe mọi người thay tôi nói chuyện, nước mắt cứ thế rơi xuống. Không phải vì vui, mà là vì… cuối cùng cũng có người tin tôi rồi.”
Cô bé ghi chép vào sổ, vành mắt đỏ lên.
“Chị Sở, chị còn gì muốn nói không?”
Tôi nhìn vào máy quay, nói: “Tôi cũng chẳng có gì để nói, chỉ là sống đúng bổn phận thôi. Người già nuôi chúng ta khôn lớn, chúng ta dưỡng già cho họ, lẽ trời là thế.”
Ngày báo đăng tin ấy, chồng tôi còn cố ý mua một bản mang về. Trang nhất không phải chuyện của tôi, đến trang thứ bảy, có một bài ngắn cỡ miếng đậu phụ, tiêu đề là “Một chiếc hộp sắt, đựng mười lăm năm ấm ức của một nàng dâu”.
8
Kèm theo một tấm ảnh, là dáng vẻ tôi ôm chiếc hộp sắt đứng trong phòng khách. Chụp không đẹp, vẻ mặt hơi cứng, nhưng ánh mắt rất sáng.
Chiều hôm ấy, chủ nhiệm khu phố Vương tới, trên tay cầm một lá cờ thi đua, vải nhung đỏ, bên trên viết mấy chữ vàng “Nàng dâu hiếu kính người già, yêu thương người thân tốt”.
“Tiểu Sở,” bà ấy nói, “đây là chút tâm ý của khu phố, cô phải nhận lấy.”
Tôi nhìn lá cờ thi đua ấy, không nhận.
“Chủ nhiệm Vương,” tôi nói, “đây đều là bổn phận, không cần khen thưởng.”
“Đây không phải khen thưởng,” chủ nhiệm Vương nhét lá cờ vào tay tôi, “đây là trả lại danh dự cho cô. Cô là người tốt, thì nên để mọi người đều biết.”
Tôi ôm lá cờ thi đua, không biết nên nói gì.
Lúc chủ nhiệm Vương đi, bà ấy ngoái đầu nhìn tôi một cái: “Tiểu Sở, cô nhớ kỹ, người tốt chưa gặp báo đáp tốt chỉ là tạm thời, cuối cùng người tốt nhất định sẽ có báo tốt.”
Lá cờ thi đua được treo trên tường phòng khách. Chồng tôi nhìn hồi lâu, rồi nói một câu.
“Cái nhà này, toàn nhờ em chống đỡ.”
Tôi không nói gì, đi vào bếp nấu cơm.
Trong tiếng xẻng đảo thức ăn leng keng, tôi lau một cái lên mắt.
Sau khi tờ thông báo được dán lên, Trương Mẫn không còn xuất hiện ở quán mạt chược trong khu nữa.
Chị Vương từng đánh bài với cô ấy trước đây nói, cô ấy gọi điện không nghe, nhắn tin không trả lời, như thể bốc hơi khỏi cõi đời.
“Có lẽ là trốn đi rồi,” chị Vương nói, “mất mặt thế này chịu không nổi.”