Trên bàn bốn món một canh, thêm một bát chè viên nếp rượu.
Lệ Hành phá lệ uống một chén rượu.
Ta cũng uống cùng một chén.
Khi trăng lên, chúng ta ngồi dưới hành lang chính phòng ngắm trăng.
“Hầu gia.”
“Đừng gọi Hầu gia nữa.”
“……Lệ Hành.”
“Ừ.”
“Sau này chàng còn trở lại Bắc Cảnh đánh trận không?”
Hắn im lặng một chút.
“Có. Biên cảnh không yên.”
“Vậy ta đi cùng chàng.”
Hắn nghiêng đầu nhìn ta.
“Bắc Cảnh khổ hàn.”
“Ta là đại phu.” Ta nhìn trăng trên trời, “Chỗ khổ hàn càng thiếu đại phu.”
“Nơi đó sẽ đánh trận.”
“Đánh trận càng thiếu đại phu.”
Hắn không phản bác nữa.
Im lặng một lát, tay hắn đưa sang, nắm lấy tay ta.
Mười ngón đan nhau.
Lòng bàn tay khô ráo ấm áp.
“Được.” Hắn nói, “Cùng đi.”
Xa xa truyền tới tiếng mõ canh của người tuần đêm.
Gió lướt qua ngọn cây hòe, mang theo hơi nóng đêm hè và mùi thức ăn không biết từ nhà ai bay tới.
Ta tựa lên vai hắn, nhắm mắt.
Bốn tháng trước, ta bị nhét lên một cỗ kiệu hoa không thuộc về mình.
Bốn tháng sau, ta tìm được một nơi thuộc về ta.
Không phải Hầu phủ.
Mà là bên cạnh hắn.
Vị trí này do chính ta giành lấy.
Không ai cướp được.
Vĩ thanh.
Nhiều năm sau, có người hỏi tới lai lịch Lệ Hầu phu nhân.
Cách nói ở kinh thành là——thứ nữ thế gả nhà họ Trì, thân phận thấp kém, hoàn toàn dựa vào may mắn mới gả được nhà tốt.
Cách nói trong quân doanh Bắc Cảnh là——Lệ Hầu phu nhân là đại phu tốt nhất trong quân, vết thương nàng khâu trên chiến trường còn nhiều hơn bất kỳ ai, tướng sĩ vừa sợ vừa kính nàng.
Cách nói của chính Lệ Hành là——
“May mắn gì chứ. Nàng cứu mạng ta.”
“Là ta may mắn.”
Còn bản thân ta——
“Lúc gả qua chỉ mong có miếng cơm ăn.”
“Sau phát hiện cơm ngon, người cũng đẹp.”
“Thế là ở lại.”
Mỗi lần nghe ta nói với người khác như vậy, chóp tai Lệ Hành lại đỏ lên.
Sau đó về phòng, cả tối không nói với ta câu nào.
Nhưng sáng hôm sau, trên bàn vẫn như thường lệ có thêm một bát chè viên nếp rượu.
Nóng hổi, thơm ngọt nức mũi.
Đời này ăn mãi cũng không chán.
Thích thì cho một lượt thích nhé, cảm ơn.