Nhưng ta biết đứa trẻ này tâm địa không xấu.
Một mùa đông nọ, nó quyên hết toàn bộ bạc tháng của mình cho trại dân tị nạn ngoài thành, không nói với bất kỳ ai.
Con trai thứ tư và thứ năm là song sinh, một đứa tên Lý Thừa Viễn, một đứa tên Lý Thừa Chinh.
Thừa Viễn thích múa đao múa thương, mười sáu tuổi đã theo đại tướng quân đến biên quan, đánh trận ba năm, được phong tướng quân.
Thừa Chinh thích đọc sách, vào Hàn Lâm viện, là văn thần được Hoàng thượng trọng dụng nhất.
Con trai thứ sáu là đứa khiến ta nhìn không thấu nhất.
Từ nhỏ nó đã ít nói, không thích chơi cùng các ca ca, luôn một mình trốn trong thư phòng đọc sách.
Nó đọc không phải Tứ thư Ngũ kinh, cũng không phải binh pháp thao lược, mà là những quyển tạp thư.
Huyện chí các nơi, môn phái giang hồ, gia phả của đại thần trong triều.
Nó chưa bao giờ tranh giành thứ gì, cũng chưa bao giờ thể hiện điều gì.
Khi huynh đệ ở cùng nhau, nó luôn đứng ngoài rìa, yên yên lặng lặng, giống như một cái bóng.
Cũng chính nó giúp ta tìm được tung tích của Sơ Nguyệt.
“Nhị tỷ đang ở Giang Nam, đổi tên rồi, mở một hiệu thuốc, chuyên chữa bệnh cho người nghèo khổ.”
“Mẫu phi, có cần đưa tỷ ấy về không?”
Ta lắc đầu.
“Không cần.”
Ta biết nàng vẫn bình an là đủ rồi.
Thừa Hối không hỏi thêm, hành lễ rồi lui ra.
9
Lại qua vài năm.
Hoàng thượng già rồi.
Sức khỏe của người ngày một kém, thái y nói là lao lực quá độ, cần tĩnh dưỡng.
Nhưng người không rảnh rỗi được, ngày ngày vẫn phê tấu chương, gặp đại thần.
Ta từng khuyên vài lần, người không nghe.
Người luôn nắm tay ta hỏi:
“Thanh Hòa, nàng yêu trẫm không?”
Ta nhìn vào mắt người. Đôi mắt từng sắc bén như chim ưng ấy, giờ đã đục đi.
Ta mỉm cười:
“Thần thiếp đương nhiên yêu Hoàng thượng.”
Hoàng thượng cũng cười, giống như một đứa trẻ vừa được cho kẹo.
Người nói:
“Trẫm biết. Trẫm vẫn luôn biết.”
Ta quay đầu, nhìn bầu trời ngoài cửa sổ, không nói gì.
Yêu ư?
Kiếp trước, ta đã không yêu người.
Kiếp này, càng không.
Ta chỉ là đã sống hai kiếp trong chốn thâm cung này, quá hiểu nên trả lời thế nào mới khiến người hài lòng.
Đến chết, Hoàng thượng vẫn cho rằng ta yêu người.
Ngày người băng hà, người nắm tay ta, nói:
“Thanh Hòa, chuyện may mắn nhất đời trẫm chính là cưới được nàng.”
Ta nói:
“Thần thiếp cũng vậy.”
Người nhắm mắt, khóe miệng vẫn mang theo ý cười.
Ta đứng trước giường người, nhìn nam nhân đã bầu bạn với ta mấy chục năm.
Trong lòng không có bi thương, cũng không có giải thoát, chỉ có một sự bình tĩnh khó nói rõ.
Người là một vị hoàng đế tốt, nhưng không phải một người chồng tốt.
Người từng yêu ta, nhưng người càng yêu giang sơn hơn.
Còn ta thì sao?
Ta từng yêu ai?
Ta chỉ yêu chính mình, còn có các con của ta.
Thái tử đăng cơ.
Ta được tôn làm Hoàng thái hậu, dọn vào Từ Ninh cung.
Con cả Thừa An làm hoàng đế, lập một hoàng hậu hiền đức, xử lý triều chính đâu vào đấy.
Con thứ hai Thừa Bình vẫn còn ngao du, thỉnh thoảng gửi thư về, nói nó đã đến bờ Đông Hải, nhìn thấy tiên sơn trong truyền thuyết.
Con thứ ba Thừa Hòa vẫn là bộ dạng hoàn khố ấy. Tân đế đã quở trách nó mấy lần, nó cười hì hì nhận sai, quay đầu lại đi chọi gà.
Con thứ tư Thừa Viễn trấn thủ biên quan mười năm, đánh cho man tộc phương Bắc phải ngoan ngoãn quy phục.
Con thứ năm Thừa Chinh làm nội các thủ phụ, cùng hoàng huynh của nó, một văn một võ, trị thiên hạ đến cảnh sông trong biển yên.
Con thứ sáu Thừa Hối… vẫn như cũ.
Mùa xuân năm ấy, Thừa Hối bỗng đến Từ Ninh cung tìm ta.
“Mẫu phi, nhi thần muốn đưa người đến một nơi.”
“Đi đâu?”
“Giang Nam.”
Ta nhìn nó, nó nhìn ta. Mẫu tử chúng ta đối diện rất lâu.
“Là đi thăm nàng?” Ta hỏi.
Thừa Hối gật đầu.
Ta im lặng rất lâu, cuối cùng nói:
“Được.”
Chúng ta vi phục xuất cung, ngồi thuyền ba ngày, đến một trấn nhỏ ở Giang Nam.
Trấn không lớn, tựa núi gần sông, rất yên tĩnh.
Thừa Hối đưa ta đến một con phố nhỏ. Góc phố có một hiệu thuốc, trên cửa treo một tấm biển, viết ba chữ: An Tế Đường.
Trước cửa hiệu thuốc xếp một hàng dài, đều là những người nghèo khổ.
Một nữ tử ngồi sau quầy, đang bắt mạch cho một bà lão.
Nàng mặc y phục màu nhạt, tóc búi bằng một cây trâm gỗ, trên mặt không son phấn.
Dung mạo của nàng có bảy phần giống hai nữ nhi kiếp trước của ta.
Ta đứng từ xa nhìn nàng.
Nàng gầy hơn trước, nhưng tinh thần tốt hơn khi còn nhỏ rất nhiều.
Sắc mặt tuy vẫn hơi tái nhợt, nhưng trong mắt đã có ánh sáng.
Nàng đang cười.
Nàng kê xong phương thuốc cho bà lão. Bà lão nắm tay nàng, nói:
“An đại phu, cô đúng là Bồ Tát sống.”
Nàng cười lắc đầu:
“Bà bà đừng nói vậy, ta chỉ làm việc mình nên làm thôi.”
Nụ cười ấy ấm áp mà sáng trong.
Giống hệt nữ nhi nhỏ của ta ở kiếp trước.
Thừa Hối đứng bên cạnh ta, khẽ nói:
“Mẫu phi, có cần đưa tỷ ấy về không?”
Ta nhìn cô nương kia, nhìn rất lâu rất lâu.
Sau đó, ta lắc đầu.
“Không cần.”
“Nàng sống rất tốt.”
“Chúng ta đi thôi.”
Thừa Hối không hỏi thêm, đỡ ta xoay người rời đi.
Sơ Nguyệt nghe thấy.
Từ bước chân đầu tiên khi chúng ta đi vào con phố này, nàng đã nghe thấy rồi.