Triệu Nguyên Hách là người cuối cùng. Hắn nằm sấp trên ghế, quay đầu nhìn ta. Ánh mắt ấy có hận, có sợ, và có một tia gì đó ta không hiểu nổi. Ta không tránh, cũng không nói lời nào. Mười trượng đánh xong, hắn không gượng dậy nổi.
Chu huyện lệnh gõ kinh đường mộc: “Án kết, thoái đường.”
Khi ta bước ra khỏi huyện nha, trời đã sập tối. Mẫu thân chờ ta trong kiệu, thấy ta ra liền vén rèm: “Chiêu Ninh.”
Ta lên kiệu, tựa vào vai bà. Kiệu được khiêng lên, lắc lư đi về nhà. Khi đi ngang qua Triệu gia, ta thấy trên cánh cửa vẫn dán chữ Hỷ đỏ thắm, đang phấp phới trong gió. Ta không nhìn thêm, kiệu cứ thế đi qua.
Chuyện nhà họ Triệu truyền khắp thành nhỏ suốt ba ngày. Ngày thứ nhất, quán trà tửu lầu bàn tán về ba mươi trượng, nói Triệu phụ khi được khiêng về, quần dính chặt vào thịt, không xé ra được. Ngày thứ hai, nói tiếng gào của Triệu mẫu vang khắp phố, mất mặt đến tận cùng. Ngày thứ ba, nói Triệu Nguyên Hách, một tú tài đường đường, vì sáu thông phòng mà lên công đường, kết quả một người cũng chẳng giữ được.
Sáu cô gái kia tan rã ngay trong ngày. Mẹ của Uyển Trân chặn trước cửa Triệu gia mắng suốt nửa canh giờ, nói con gái mình trong sạch, đến làm thông phòng chứ không phải đến ngồi tù. Cha của Uyển Tú còn dứt khoát hơn, dẫn theo mấy anh em trong tộc, khiêng sính lễ trả lại nguyên trạng. Những người còn lại, kẻ tự đi, người được nhà đón, chưa đầy hai ngày đã đi sạch sành sanh.
Bà mai từ đó đi đường vòng tránh nhà họ. Cũng không phải không có ai dạm ngõ cho Triệu Nguyên Hách, nhưng là một góa phụ huyện bên, ba mươi hai tuổi, mang theo hai con. Bà mai vừa mở lời, Triệu mẫu đã mắng ngược lại, bảo đây là sỉ nhục ai? Bà mai cũng không giận, thu thiếp rồi đi, trước khi đi để lại một câu: “Vậy thì công tử nhà các người cứ thong thả mà chọn, chọn đến năm mươi tuổi cũng được.”
Lời này truyền ra, lại khiến người ta cười thêm ba ngày.
Chiều ngày thứ tư, khi tiệm vải sắp đóng cửa, gia nhân vào báo có người tìm. Ta hỏi là ai. Gia nhân vẻ mặt kỳ quái: “Là vị nhà họ Triệu.”
Ta cúi đầu đối sổ, không ngẩng mắt: “Không tiếp.”
Gia nhân ra ngoài, một lát sau quay lại: “Hắn quỳ ở cửa rồi.”
Ta đặt sổ xuống, đi ra cửa. Triệu Nguyên Hách quả nhiên quỳ đó, mặc bộ bào cũ bạc màu, gầy hơn hẳn ngày ở công đường. Trên phố vây một vòng người, chỉ trỏ bàn tán. Thấy ta, mắt hắn sáng lên một thoáng.
“Chiêu Ninh,” hắn quỳ tiến về phía trước hai bước, “ta đến cầu nàng tha thứ.”
Ta không động đậy.
“Ngày đó là ta hồ đồ, là ta khốn nạn, ta không nên nghe lời mẫu thân, không nên nghi ngờ nàng.” Giọng hắn nghẹn ngào, “Tình cảm bao năm qua, nàng cho ta thêm một cơ hội nữa đi!”
Ta nhìn hắn. Khuôn mặt này ta đã nhìn mười mấy năm, thuở nhỏ cùng trèo cây bắt chim, lớn lên hắn viết thư ta chờ, ta cứ ngỡ mình hiểu hắn. Nhưng khi hắn quỳ ở công đường, dùng ánh mắt đó nhìn ta, ta chợt nhận ra mình chẳng hề quen biết hắn.
“Triệu Nguyên Hách,” ta lên tiếng, “chàng quỳ ở đây làm gì?”
Hắn ngẩn ra.
“Để cho người ta thấy chàng si tình? Hay để cho người ta thấy ta nhẫn tâm?” Ta cúi nhìn hắn, “Khi mẫu thân chàng mắng ta, chàng ở đâu? Khi chàng nói ta làm mất mặt, chàng nghĩ gì? Khi chàng nói muốn nghiệm thân ta, chàng lại ở đâu?”
Hắn há miệng.
“Giờ chàng quỳ ở đây, là vì biết ta không sai sao?” Ta hỏi, “Hay là vì sáu cô gái kia đi hết rồi, không còn ai chịu gả cho chàng nữa?”
Mặt hắn đỏ bừng. “Ta không phải…”
Ta ngắt lời: “Chàng có phải hay không, ta không quan tâm.”
Ta quay người đi vào. Hắn ở phía sau gọi ta, giọng mang tiếng khóc. Ta không ngoảnh đầu. Vào đến cửa, gia nhân lấp ló nhìn ra ngoài. Ta bảo đóng cửa đi, hôm nay nghỉ sớm. Gia nhân vâng lời, đi chốt cửa.