Chúng tôi ba chân bốn cẳng chạy ngược lại, tới đúng vị trí ban nãy bà nội đứng.

Ngay phía sau bia mộ, trên mặt đất xuất hiện một cái hố.

Cái hố không lớn, vừa vặn đủ để kéo tuột một người xuống.

Từ dưới hố vọng lên âm thanh, ồm ồm, nghèn nghẹt như bị chặn bởi lớp đất dày:

“Em Hai… Em Út… cứu chị với…”

Là giọng của chị Cả.

Rồi âm thanh đó im bặt.

Thay vào đó là tiếng cười khùng khục của bà nội, nghe như tiếng xương cốt va chạm vào nhau.

Điện thoại tôi sáng màn hình.

Một tin nhắn mới:

“Đứa đầu tiên.”

***

**CHƯƠNG 6**

Tôi và em Út gần như lăn lộn chạy xuống núi.

Chui tọt vào xe, em Út cầm lái, tôi ngồi ghế phụ, hai đứa câm như hến, chỉ nghe mỗi tiếng bánh xe nghiến trên mặt đường.

Chạy được nửa tiếng, em Út mới rụt rè lên tiếng: “Chị Hai, chị Cả… chị ấy chết rồi sao?”

Tôi không biết phải trả lời thế nào.

Cái hố đó, tiếng kêu cứu đó, tiếng cười của bà nội… liệu chị Cả có còn sống không? Hay đúng hơn, chị ấy còn được coi là người sống không?

“Cứ về nhà đã,” tôi nói, “Rồi tính tiếp.”

Về đến nhà, chúng tôi không dám bật đèn. Hai chị em cuộn tròn trên sô-pha, quấn chăn kín mít từ đầu đến chân.

“Chị Hai, chị nghĩ lời bà nội nói là thật sao? Chết đến khi chỉ còn một người, thì người đó là đứa lấy quân Nhất Sách?”

“Chị không biết.”

“Thế nếu không ai trong tụi mình lấy thì sao?” Giọng em Út run rẩy, “Nếu cả ba đứa đều không lấy, vậy có phải cả ba đều chết oan không?”

Câu hỏi này tôi cũng chịu, không đáp nổi.

Đúng hai giờ sáng, điện thoại tôi lại sáng lên.

Lần này không phải tin nhắn chữ, mà là tin nhắn hình ảnh.

Khuôn mặt của chị Cả.

Khuôn mặt ấy bị bùn đất trát kín hơn một nửa, chỉ để lộ ra một con mắt và nửa cái miệng. Con mắt đó trợn trừng, đồng tử giãn to chứa đầy sự hoảng loạn tột độ. Cái miệng há hốc như đang gào kêu cứu, nhưng lại không phát ra tiếng.

Bên dưới bức ảnh là một dòng chữ:

“Hai, người tiếp theo là mày.”

Tôi ném tuột cái điện thoại, lao thẳng vào nhà vệ sinh nôn thốc nôn tháo.

Em Út chạy theo, vuốt lưng cho tôi, bản thân nó cũng đang khóc nức nở.

“Chị Hai, báo cảnh sát đi chị.”

“Báo cảnh sát thì nói gì? Nói hồn ma bà nội định giết tụi mình à?”

“Thế tụi mình đi tìm thầy cúng? Tìm đạo sĩ? Chứ không lẽ ngồi chờ chết!”

Tôi sực nhớ ra bà đồng quen biết trước kia, họ Lâm, mở một tiệm hương hỏa ở mạn phía Đông thành phố, nghe nói cũng có chút bản lĩnh. Dù lần trước đi xem suýt bị bà ấy dọa chết khiếp, nhưng lúc này chẳng còn con đường nào khác.

“Trời sáng tụi mình đi tìm bà đồng Lâm.”

Thức trắng đêm.

Trời vừa tờ mờ sáng, tôi và em Út đã ra khỏi nhà. Tiệm hương hỏa của bà đồng Lâm nằm sâu trong một con hẻm cũ, mặt tiền bé xíu, trước cửa chất đầy người giấy, ngựa giấy, trông âm u lạnh lẽo vô cùng.

Bà đồng Lâm tầm hơn sáu mươi tuổi, người gầy đét như cây sậy, nhưng đôi mắt thì cực kỳ sắc bén, nhìn ai là như muốn nhìn thấu tâm can người đó.

“Hai cô nương, xem sắc mặt thế này, đụng phải âm binh rồi đúng không?”

Tôi vào thẳng vấn đề: “Bà Lâm, bà nội cháu mất được ba tháng rồi, đêm Thanh minh về báo mộng, nói ba chị em cháu có người lấy quân Nhất Sách của bà, không tìm ra thì bắt cả ba phải chết. Đêm qua chị Cả cháu đã bị bà kéo đi rồi.”

Sắc mặt bà Lâm lập tức thay đổi.

Bà nhìn tôi một cái, lại nhìn em Út, sau đó quay người lấy ba nén nhang từ trong tủ ra châm lửa, cắm vào bát hương.

Khói nhang cuộn lên từng vòng, ngoằn ngoèo vặn vẹo như có ai đang gạt tay nghịch ngợm bên trên.

“Oán khí của bà nội cháu nặng lắm.” Bà Lâm chằm chằm nhìn làn khói, vẻ mặt ngưng trọng, “Lúc mất, bà cháu có tâm nguyện gì chưa hoàn thành không?”