Chu Đức Thắng đang ngồi xổm bên bờ ao, thò tay vào áo rút ra hai cái chai, vặn nắp rồi trút hết xuống ao.
Đổ xong, ông ta đứng dậy phủi tay, quăng hai cái vỏ chai xuống nước rồi bỏ đi.
Toàn bộ quá trình diễn ra chưa đầy hai phút.
“Bố anh đâu rồi?” Tôi hỏi.
“Ông cụ mất từ năm kia rồi.” Anh ta trầm ngâm một lát. “Trước lúc mất ông có bảo tôi, cái này cứ giữ lại, biết đâu có ngày dùng đến.”
“Anh muốn bao nhiêu tiền?”
Anh ta nhìn tôi một cái: “Không cần tiền. Bố tôi bảo, coi như trả nợ cho nhà họ Dương.”
Trưa hôm sau, xe cảnh sát đậu ngay đầu làng.
Bốn viên cảnh sát đi dọc con đường chính tiến thẳng về phía nhà Chu Đức Thắng.
Người trong làng bưng bát cơm ùa ra, đi theo suốt dọc đường.
Chu Đức Thắng đang ngồi xổm ngoài sân ăn mì. Thấy cảnh sát, ông ta đặt bát xuống đất, đứng dậy.
“Chu Đức Thắng?”
“… Là tôi.”
“Ông bị tình nghi liên quan đến một vụ án hạ độc phá hoại sản xuất kinh doanh xảy ra hơn hai mươi năm trước. Mời ông theo chúng tôi một chuyến.”
Lúc bị giải lên xe, người trong làng đã vây kín xung quanh. Chu Đức Thắng nhìn qua cửa sổ xe, chạm ánh mắt tôi.
“Dương Siêu Đông…” Mắt ông ta vằn lên đỏ sọc. “Mày có bằng chứng không?”
Tôi bước đến trước cửa sổ xe, giơ điện thoại lên.
Trên màn hình là cảnh ông ta ngồi xổm bên bờ ao, dốc ngược chai thuốc trong tay xuống nước.
Chu Đức Thắng nhìn chằm chằm vào màn hình, chút máu sắc cuối cùng trên mặt cũng dần nhạt đi.
Môi ông ta bắt đầu run rẩy, hàm răng đánh vào nhau lập cập, cả người như bị rút sạch xương cốt, mềm nhũn rũ xuống ghế.
“Mày… mày lấy ở đâu ra…”
“Chú Chu,” Tôi cất điện thoại đi. “Năm xưa lúc đổ thuốc, chắc chú không ngờ lại có người quay lại được đâu nhỉ.”
Đầu ông ta gục xuống.
Không ngẩng lên nổi nữa.
Xe cảnh sát nổ máy.
Dân làng bắt đầu xôn xao bàn tán.
“Bắt thật rồi kìa! Hơn hai mươi năm rồi đấy!”
“Đáng đời! Đầu độc cá nhà người ta, ép bố người ta phải đi bốc vác xi măng đến mức gãy ba cái xương sườn.”
Chiếc xe cảnh sát rẽ khỏi cổng làng, khuất dạng.
Đám đông tản đi.
Bố tôi đứng ở cửa nhà lồng nấm. Thấy tôi bước tới, ông nói: “Tối nay khỏi nấu cơm.”
“Đi ăn nhà hàng.” Ông chống gậy quay người lại. “Quán nhà ông Tôn đầu làng, gọi cả chú Trần đi cùng.”
Tối hôm đó bố tôi uống ba ly rượu.
Chú Trần uống hai ly. Tôi không uống.
Bố tôi đặt ly rượu xuống bàn, buông một câu: “Hai mươi mấy năm rồi.”
Chú Trần đáp: “Ừ.”
Không ai nói thêm lời nào nữa.
Hai tháng sau, tòa tuyên án.
Tội phá hoại hoạt động sản xuất kinh doanh, phạt tù 5 năm.
Sau khi Chu Đức Thắng vào tù, dãy nhà kính trồng hương thuẩn bị ngân hàng tịch thu, nhà cửa bị tòa án niêm phong.
Vợ ông ta dẫn cháu nội về nhà ngoại.
Chu Tiểu Quân bỏ xứ đi làm thuê, lúc đi chỉ vác theo một cái bao tải rách, chẳng nói với ai lời nào.
Dịp Tết năm đó, tôi xuất đi thành phố được năm xe nấm hương.
Ông Chu quản lý siêu thị gọi điện hỏi năm sau có mở rộng thêm được hai cái nhà lồng nữa không.
“Đã mở rộng xong rồi chú.” Tôi nói.
“Lại mở rộng nữa à?”
“Cháu thầu luôn đất của nhà hàng xóm rồi.”
Cúp điện thoại, tôi ngồi xổm trong nhà lồng kiểm tra phôi nấm.
Từng cây nấm hương đang chen chúc nhau mọc ra, đen nhánh, mập mạp.
Bên ngoài nhà lồng, gió thổi mang theo hơi nóng từ phòng sấy phả tới. Đống phôi nấm thải dưới hố ủ bốc lên những làn khói trắng nhờ nhờ.
Xa xa là cái sân nhà Chu Đức Thắng giờ đã cỏ mọc um tùm, trên cửa dán giấy niêm phong.
Xa hơn chút nữa là đám ruộng ngô được trồng trên mảnh đất từng là ao cá năm xưa, những gốc ngô khô khẳng khiu đâm lên từ mặt đất, phủ một lớp sương trắng xóa.
Tôi đứng lên, vỗ vỗ phủi bụi nấm trên tay.
Đã đến lúc lật lứa phôi nấm mới rồi.