Tôi kẹp điện thoại giữa tai và vai, một tay bóc quýt.

“Ôn thị nào?”

“Thì là… nhà đầu tư lớn nhất của Y tế Bùi thị. Quý trước vừa ký thỏa thuận bổ sung, tháng này đột nhiên đơn phương đóng băng vốn. Bố anh họp hội đồng quản trị ba lần rồi, phía đối phương không một ai xuất hiện.”

Tôi bóc từng múi quýt đặt vào đĩa.

“Liên quan gì đến tôi?”

“Không liên quan, anh chỉ là… bực mình thôi.” Anh ta thở dài, “Cuối tháng còn đám cưới, mẹ anh lại hối thúc tăng ngân sách địa điểm, Ôn thị vừa ngừng, dòng tiền trong tài khoản công ty sẽ căng ngay.”

Tôi không đáp.

“Ôn Niệm?”

“Ừ, đang nghe đây.”

“Dạo này sức khỏe em thế nào? Con có ổn không?”

Đột nhiên hỏi những điều này.

Tôi ngẩn ra: “Rất tốt.”

“Vậy thì tốt.” Ngừng một chút, “Thuốc dưỡng thai vẫn đang uống chứ? Không đủ tiền thì bảo anh.”

“Không cần.”

Cúp điện thoại, tôi đẩy đĩa quýt ra, cầm xấp tài liệu trên bàn trà.

Phòng pháp chế của Ôn thị gửi đến ba ngày trước—toàn bộ hồ sơ nhận đầu tư của Y tế Bùi thị trong năm năm qua, cấu trúc cổ phần, và chi tiết mười bảy giao dịch liên quan với các công ty con của nhà họ Thẩm.

Tôi lật từng trang.

Con số không phức tạp, nhưng mối quan hệ rất rõ ràng: Cái gọi là “hợp tác hai mươi năm” giữa nhà họ Thẩm và nhà họ Bùi, nói trắng ra là Bùi thị đưa ra giấy phép công nghệ, nhà họ Thẩm đưa ra nguồn lực hành chính, lợi nhuận chia ba bảy—nhà họ Bùi lấy ba.

Còn khoản đầu tư bổ sung của Ôn thị năm ngoái đã trực tiếp đẩy định giá của Bùi thị lên gấp đôi.

Không có Ôn thị, chuỗi vốn của Bùi thị không trụ nổi hai quý.

Thẩm Tri Nhu chắc không biết những điều này. Bùi Cảnh Thâm cũng không biết.

Anh ta chỉ biết Ôn thị đột nhiên không đầu tư nữa, chứ không biết tại sao.

Chuông cửa vang lên.

Tôi cứ ngỡ là shipper, mở cửa ra—là Thẩm Tri Nhu.

Hôm nay cô ta mặc một chiếc váy xanh nhạt, tay không cầm túi giữ nhiệt, cũng không mang quần áo cũ.

“Ôn Niệm, tôi đến thăm chị. Nghe Cảnh Thâm nói dạo này chị cứ ở nhà suốt, cũng không đi khám thai.”

Tôi nghiêng người cho cô ta vào, tiện tay lật mặt xấp tài liệu trên sofa xuống.

Cô ta ngồi xuống, liếc nhìn bàn trà.

“Chị đang xem gì thế?”

“Tiểu thuyết.” Tôi nói.

Cô ta mỉm cười, không hỏi thêm.

“Chuyện những bài đăng trên mạng… tôi đã nói với Cảnh Thâm, bảo anh ấy giúp chị xóa rồi.”

“Cô là người cho đăng, rồi cũng là người cho xóa?”

Nụ cười của cô ta khựng lại—rất ngắn, giống như một khung hình bị nhảy cóc.

“Ôn Niệm, tôi biết chị có thành kiến với tôi, nhưng chuyện đó thực sự không phải tôi làm. Các nhóm học thuật tôi không quản được, ai chụp màn hình tôi cũng không kiểm soát được—”

“Thẩm Tri Nhu,” tôi ngắt lời, “Cô không mệt sao?”

Cô ta nhìn tôi.

“Mỗi lần cô đến, mỗi câu cô nói đều là để bào chữa cho bản thân, đồng thời nhắc nhở tôi—cô là vợ sắp cưới của anh ta, còn tôi là kẻ nên biết điều mà rời đi. Cô đóng gói quá trình này dưới cái mác ‘quan tâm’, nhưng chúng ta đều hiểu rõ cô đang làm gì.”

Thẩm Tri Nhu im lặng ba giây.

Sau đó cô ta cười—không phải nụ cười dịu dàng chuẩn mực trước đây, mà là một nụ cười cuối cùng cũng không cần phải cố gắng nữa.

“Được, vậy tôi nói thẳng luôn.”

Cô ta vắt chéo chân, tựa vào lưng sofa.

“Ôn Niệm, chị không có bất kỳ quân bài nào trong tay cả. Chị không nhà, không việc làm, không tiền. Thỏa thuận của nhà họ Bùi chị không ký cũng phải ký, đứa trẻ chị không giữ được cũng không nuôi nổi. Việc duy nhất chị có thể làm lúc này là trong khi mức giá vẫn còn cao, hãy chấp nhận điều kiện rồi biến đi.”

“Một triệu không đủ tôi có thể giúp chị thương lượng lên một triệu hai, nhưng nếu chị cứ kéo dài—đợi đám cưới xong, chị đến một xu cũng không lấy được.”

Tôi nhìn đôi bàn tay được chăm sóc kỹ lưỡng của cô ta, chiếc kim cương nhỏ trên ngón áp út lóe lên dưới ánh đèn.