ngòi.”

“Được một lúc, bà ấy bỗng quỳ sụp xuống.” Anh ta giống như đang kể lại câu chuyện của một người khác, “Túm chặt ống quần anh mà khóc lóc, bảo bà ấy cũng bị ép đến bước đường cùng, bảo lúc đó bà nghèo đến mức không mở nổi nồi, bảo nếu không có anh, bà ấy đã chết đói ngoài đầu đường xó chợ từ lâu rồi.”

Cổ họng tôi hơi nghẹn lại.

“Anh hỏi bà ấy, có phải từ đầu đã biết bế nhầm con rồi không.” Triệu Thần hít vào một hơi, “Bà ấy bảo bà ấy biết, nhưng bà ấy không muốn nhận phần thiệt. Bà ấy bảo điều kiện nhà họ Triệu tốt, ông bà ấy người lại thật thà, sau này chắc chắn sẽ cho con đi học hành tử tế. Còn bên nhà bà ấy, chồng thì máu me cờ bạc, mẹ chồng thì cay nghiệt, sau này anh chỉ đi theo chịu khổ thôi.”

Anh ta khẽ cười, tiếng cười chua chát.

“Bà ấy nói hồi đó bà ấy đã nghĩ, một khi ông trời đã cho bà ấy cơ hội, đổi lấy một đứa con có số mệnh tốt hơn mang về, cớ gì bà ấy lại không chộp lấy.”

Đầu dây bên kia, tiếng gió chợt rít mạnh hơn đôi chút.

“Bà ấy còn bảo, những năm nay nuôi anh ăn học, cho anh ra ngoài đi làm, là vì bà ấy thương anh.” Anh ta ngừng một lát, “Nhưng câu tiếp theo của bà ấy, đánh gục anh hoàn toàn.”

“Bà ấy bảo, nuôi con phòng lúc tuổi già, tiêu của anh tí tiền thì có sao. Nếu năm xưa không phải bà ấy cắn răng nhất quyết không chịu đổi lại, thì bây giờ cái đứa làm ông chủ lớn trên thành phố kia, đã về báo hiếu nhà họ Triệu rồi. Bà ấy bảo, bà ấy đánh đổi cả đời mang tiếng nhơ để đổi lấy một đứa con trai có tiền đồ, cớ gì bà ấy không được hưởng phúc.”

Tôi nghe thấy hàm răng mình va vào nhau khẽ kêu một tiếng.

Triệu Thần ở đầu dây bên kia bật cười một tiếng nhạt nhẽo, tiếng cười mang theo nỗi hoang tàn xót xa khi mọi sự thật phơi bày.

“Hân Hân, anh bỗng nhiên nhận ra, cái ‘lòng hiếu thảo’ mà anh hằng tự hào bao năm nay, trong mắt bà ấy, hóa ra chỉ là lợi nhuận từ khoản đầu tư mà thôi.”

Anh ta ngừng một lát.

“Anh không biết phải hận bà ấy thế nào.” Giọng anh ta rất khẽ, “Anh lớn lên nhờ ăn cơm bà ấy nấu, bà ấy vá áo cho anh, mùa đông nửa đêm thức dậy đắp lại chăn cho anh, bà ấy cõng anh chạy lên thị trấn khám bệnh, những chuyện này đều là thật. Nhưng việc bà ấy lừa dối anh, lợi dụng anh, cũng là sự thật.”

Hốc mắt tôi hơi nóng lên.

“Vậy anh định tính sao?” Tôi hỏi.

Đầu dây bên kia im lặng mất mấy giây.

“Anh báo cảnh sát rồi.” Cuối cùng anh ta cũng nói.

“Bọn họ bảo, chuyện này xảy ra lâu quá rồi, muốn điều tra rõ không dễ, nhưng chỉ cần có bằng chứng là có thể lập hồ sơ.” Anh ta khựng lại, “Anh biết, làm vậy sẽ rất khó coi. Bà ấy khóc lóc cầu xin anh, bảo bà ấy già rồi, không chịu nổi giày vò nữa, bảo bà ấy hồ đồ nhất thời, không đáng phải rũ tù mà chết.”

Giọng anh ta chợt nghẹn ngào.

“Nhưng anh thật sự không biết, ngoài việc báo cảnh sát, anh còn có thể làm gì khác.”

Tôi tựa lưng vào cửa sổ, nhắm nghiền mắt.

“Anh làm đúng rồi.” Tôi nhẹ giọng nói.

Đầu dây bên kia lặng đi một lát.

“Anh cũng không biết có đúng hay không.” Anh ta lẩm bẩm, “Anh chỉ là… không muốn tiếp tục làm một thằng ngu hết lần này đến lần khác nhẫn nhịn nữa.”

Sau khi cúp điện thoại, tôi đứng trước cửa sổ, nhìn bầu trời xám xịt bên ngoài, đứng mãi cho đến tận hoàng hôn.

Mấy ngày sau, đồn công an trên huyện gọi điện thoại tới, xác nhận thông tin trình báo, rồi lại thông báo cho phía nhà họ Triệu đến phối hợp điều tra.

Rất nhanh, người nhà họ Triệu cũng bị kéo vào cuộc.

Hai ông bà già nhà họ Triệu lúc đầu không tin, cứ đinh ninh là có kẻ muốn chia rẽ ly gián. Đến ngày nhận được kết quả xét nghiệm ADN, hai ông bà già ôm tờ giấy mỏng dính đó, ngồi sụp trước cửa đồn công an, ngồi lì trọn một buổi chiều.

Nghe nói đứa con trai nhà họ Triệu, tức là cái vị ông chủ trên thành phố nọ, đặc biệt đánh xe từ xa về, sắc mặt xanh mét.