Trong bộ đàm truyền đến giọng nói lo lắng của Đại Quỳ.
“Anh Mặc! Anh Mặc, anh sao rồi?”
Tôi cầm bộ đàm dự phòng đang đeo trước ngực lên, đó là thứ tôi đã chuẩn bị từ trước.
“Tôi không sao.”
Giọng tôi hơi khàn.
“Các cậu cứ hành động theo kế hoạch, giữ liên lạc.”
“Rõ.”
Giọng Đại Quỳ nghe như thở phào nhẹ nhõm.
Tôi tắt bộ đàm, không dừng lại dù chỉ một lát.
Quay người, tôi đi về phía sâu trong bụi cây thấp lùn kia.
Phán đoán của tôi là đúng.
Càng đi về phía trước, mùi mặn ẩm trong không khí càng nặng.
Thậm chí tôi còn có thể nghe thấy tiếng sóng biển mơ hồ.
Đi khoảng nửa tiếng.
Xuyên qua mảng rừng rậm cuối cùng.
Trước mắt tôi bỗng mở rộng ra.
Một tòa hải đăng cô độc sừng sững ở tận cùng vách đá.
Nó đã trải qua gió sương năm tháng, tường ngoài loang lổ, lớp sơn trắng bong tróc thành từng mảng lớn.
Giống như một ông lão cô độc bị thế giới lãng quên.
Gió biển thổi qua, phát ra tiếng ù ù, như tiếng quỷ khóc.
Nơi này, chính là “chỗ cũ” của Khương Văn.
Tôi bước đến gần hải đăng.
Trên cánh cửa gỗ khổng lồ treo một ổ khóa lớn rỉ sét loang lổ.
Nhưng điều đó không làm khó được tôi.
Tôi đi quanh hải đăng một vòng.
Ở mặt sau, tại một khung cửa sổ bị hỏng, tôi tìm được lối vào.
Tôi lật người vào trong tháp.
Một mùi mốc và bụi dày đặc ập thẳng vào mặt.
Bên trong tháp trống rỗng, chỉ có một cầu thang sắt xoắn ốc đi lên phía trên.
Ánh sáng từ cửa sổ trên đỉnh tháp chiếu xuống, tạo thành những vệt sáng loang lổ trên mặt đất.
Tôi không vội lên lầu.
Mà cúi xuống quan sát thật kỹ mặt đất.
Bụi ở đây rất dày.
Nhưng ở hướng dẫn tới cầu thang, có một hàng dấu chân rất mờ.
Dấu chân rất nhỏ.
Là của phụ nữ.
Lâm Vi đã đến đây.
Hơn nữa, không chỉ một lần.
Tôi lần theo dấu chân, đi lên cầu thang xoắn ốc.
Cầu thang vì lâu ngày không được sửa chữa, mỗi bước đi đều phát ra tiếng “kẽo kẹt kẽo kẹt” phản kháng.
Trong không gian trống trải của tháp, âm thanh ấy càng chói tai hơn.
Tầng trên cùng của hải đăng là một phòng quan sát nhỏ.
Bốn phía đều là những khung cửa sổ kính lớn.
Đáng tiếc, phần lớn kính đã vỡ, chỉ còn lại khung cửa rỗng không.
Đứng ở đây, có thể nhìn bao quát cả vùng biển sóng lớn cuồn cuộn phía dưới.
Ở giữa căn phòng đặt một chiếc hòm gỗ cũ nát.
Trên hòm gỗ cũng phủ đầy bụi bặm.
Tôi bước tới, mở chiếc hòm ra.
Bên trong không phải số hàng hóa như tôi tưởng.
Mà là vài món đồ dùng sinh hoạt của phụ nữ.
Một túi ngủ, mấy hộp đồ hộp, và vài chai nước khoáng.
Đây là một chỗ ẩn thân của Lâm Vi.
Tôi cau mày.
Chẳng lẽ Khương Văn đã lừa cô ta?
Hàng hóa mà anh ta nói, căn bản không ở đây?
Ánh mắt tôi bắt đầu rà soát căn phòng từng chút một.
Góc tường, sàn nhà, trần nhà.
Bất cứ chỗ nào có thể giấu đồ, tôi đều không bỏ qua.
Cuối cùng, tầm mắt tôi dừng lại ở chính giữa sàn phòng.
Ở đó có một tấm thép tròn.
Đó là bệ dùng để cố định ngọn đèn pha khổng lồ trước đây.
Mé tấm thép có dấu vết bị người ta nạy lên.
Tuy rất nhỏ, nhưng không qua mắt được tôi.
Tôi tìm một cây xà beng, dồn hết sức lực nạy tấm thép ra.
Bên dưới tấm thép là một cái hố sâu.
Trong hố, từng gói hàng được bọc bằng tấm chống nước màu đen được xếp ngay ngắn.
Tôi rạch một gói trong số đó.
Bên trong là thứ bột trắng có độ tinh khiết cực cao.
Tôi nhìn xuống cả cái hố đầy tội lỗi này.
Số lượng lớn đến mức vượt xa tưởng tượng của tôi.
Lô hàng này, đủ để Lục Cửu phát điên, cũng đủ để Khương Triết vạn kiếp bất phục.
Ở trên cùng của những gói hàng còn đặt một chiếc hộp kim loại được niêm phong.
Tôi mở hộp ra.
Bên trong có một chiếc điện thoại vệ tinh, một chiếc USB, và một bức thư.
Bức thư là viết cho Lâm Vi.
Chữ viết là của Khương Văn.
“Vi Vi, khi em đọc được bức thư này, hãy quên anh đi, sống tiếp.”