Anh suy nghĩ rất nghiêm túc.
“Trước kia cũng biết, chỉ là thường nghĩ không được chu toàn.”
Tôi bật cười.
Ăn được một nửa, anh bỗng nhiên nói.
“Đường Chi Ninh, có chuyện này anh muốn hỏi em.”
Tôi ngẩng đầu.
“Nếu sau này có người hẹn em đi ăn những lúc không có họp dự án, em có cảm thấy khó chịu không?”
Bàn tay đang cầm đũa của tôi khựng lại một chút.
Anh nói tiếp.
“Anh không vội đòi một câu trả lời.”
“Cuộc sống hiện tại của em đang được sắp xếp rất tốt, anh cũng không muốn vì suy nghĩ của mình mà tạo thêm gánh nặng cho em.”
Tôi nhìn anh.
Trong một năm qua, không phải tôi không nhận ra tình cảm của anh.
Mỗi khi tăng ca xong, anh sẽ đợi ở dưới lầu cho tôi cất xong máy tính.
Lúc đi tái khám tôi hay căng thẳng, anh sẽ đợi tôi đồng ý rồi mới đi cùng, ngồi ở khu chờ tự mình đọc tài liệu.
Có một hôm tay phải tôi bị run, làm đổ một cốc trà ra bàn.
Anh không nói không sao trước, mà lại hỏi tôi có bị bỏng không.
Khi anh làm những việc này, không hề đòi hỏi tôi vì thế mà phải vui lên, hay lập tức trao trái tim cho anh.
Tôi từng nghĩ tình yêu lúc nào cũng phải dùng sức.
Phải đoán ý, phải nhượng bộ, phải chứng minh, phải sợ nếu mình bỏ lỡ một câu nói, sẽ bỏ lỡ một người.
Nhưng khi ở bên Kỷ Hành Chu, tôi phát hiện ra có thể không cần như vậy.
“Kỷ Hành Chu.”
“Ừ?”
“Hiện tại em không có ý định kết hôn, cũng không thể đảm bảo sau này mình sẽ không sợ hãi.”
Anh gật đầu.
“Anh biết.”
“Tay phải của em có thể còn cần rất nhiều thời gian mới hồi phục được, công việc cũng thường xuyên được đặt lên hàng đầu.”
“Đôi khi em sẽ rất không nói đạo lý.”
“Vậy thì đợi em nói xong những lời vô lý đó, chúng ta lại thảo luận tiếp.”
Tôi lườm anh một cái.
Anh cười.
Một nụ cười rất nhạt, nhưng khóe mắt lại từ từ cong lên.
Tôi cúi đầu gảy gảy cơm trong bát, ngực bỗng nóng râm ran.
“Cuối tuần sau em không phải tăng ca.”
Anh ngước mắt lên.
“Nếu anh muốn, có thể hẹn em đi nghe một buổi hòa nhạc.”
“Em thích thể loại nào?”
“Gì cũng được. Nhưng ghế đừng gần quá, em không thích cứ phải ngẩng đầu mãi.”
Kỷ Hành Chu lấy điện thoại ra, nghiêm túc ghi lại yêu cầu này.
Tôi mỉm cười vươn tay, nhẹ nhàng ấn điện thoại của anh xuống bàn.
“Không cần nhớ nghiêm túc đến thế đâu.”
Anh nhìn tôi, từ từ nắm lấy bàn tay trái tôi vừa đưa qua.
“Vậy lần sau anh quên, em lại nói cho anh nghe nhé.”
Tôi không rút tay về.
Trời ngoài cửa sổ đã tối, những ngọn đèn trong quán ăn nhỏ từng chiếc từng chiếc sáng lên.
Tôi bỗng nhớ lại vài năm trước, có một người từng nói, hy vọng khi tôi làm xong việc, sẽ có người chờ tôi tắt đèn.
Lúc đó tôi cứ ngỡ, hạnh phúc là từ đó có một người sẽ không rời đi.
Tiếc thay, người đó đã thay đổi rồi.
Sau này chúng tôi thực sự đã đi nghe hòa nhạc.
Lúc tan cuộc, tôi chủ động nắm lấy tay Kỷ Hành Chu.
Anh có chút kinh ngạc, bước chân chậm lại, hỏi tôi.
“Tay lạnh không?”
Tôi nói.
“Không lạnh.”
Chúng tôi chậm rãi đi dọc theo lề đường, không ai vội vã về nhà.
Sau đó nữa, chúng tôi bắt đầu nghiêm túc yêu nhau.
Tôi vẫn làm công việc phục chế tài liệu, cũng tiếp tục học hỏi những công nghệ kỹ thuật số mới.
Thỉnh thoảng tay phải sẽ nhức mỏi vì thời tiết thay đổi, tôi sẽ dừng lại vận động một chút, rồi làm nốt những việc chưa làm xong.
Kỷ Hành Chu không làm thay tôi mọi việc.
Tôi cũng không cần anh làm như vậy.
Có một năm vào mùa thu, chúng tôi cùng nhau chỉnh lý một lô ảnh cũ ố vàng.
Tôi đặt một tấm ảnh lên bàn thấu quang, mặt sau tờ giấy hắt ra một lớp ánh sáng ấm áp và dịu dàng.
Bóng người trên ảnh đã không còn nhìn rõ nữa, nhưng ô cửa sổ, bóng cây của buổi chiều hôm đó, cùng với người đứng bên cửa, đều được lưu giữ lại.
Kỷ Hành Chu hỏi tôi.
“Tấm này còn có thể phục chế đến mức độ nào?”
Tôi nhìn một lúc rồi nói.
“Từ từ thôi, bắt đầu từ những chỗ có thể nhìn thấy trước đã.”
Anh chỉnh đèn sáng hơn một chút, ngồi xuống cạnh tôi.
“Được.”
Tôi cúi đầu, lại một lần nữa cầm dụng cụ lên.
Lần này, ánh sáng rơi trên đôi bàn tay tôi.