Vợ đoàn trưởng Chu cười rất lâu, đến mức cuộn len lăn khỏi đầu gối cũng không để ý.

Tôi ôm con gái đứng nguyên tại chỗ, sửng sốt một lát.

Sau khi về nhà, tôi đặt con gái vào nôi.

Tôi đứng giữa phòng khách, cũng không biết mình đang nghĩ gì, ánh mắt liếc về phía phòng của Lục Tranh.

Cửa phòng ngủ đang mở.

Tủ quần áo là loại tủ gỗ ba cánh kiểu cũ. Cánh tủ ngoài cùng bên trái quanh năm đóng kín, bên trong treo quân phục của anh.

Tôi đi đến, kéo cánh tủ ra.

Ba bộ quân phục thẳng thớm, từ đồ mùa hè đến đồ mùa đông được sắp xếp chỉnh tề.

Tôi đưa tay vào trong, sờ thấy một vật cứng bên dưới bộ lễ phục thiếu tá nằm sâu nhất.

Một chiếc khăn lụa.

Khăn được gấp vuông vức, đựng trong túi nhựa trong suốt, nhãn giá vẫn chưa tháo.

Trên nhãn viết:

“Lụa thật in hoa – Cửa hàng Bách hóa Quảng Châu.”

Tôi lật chiếc khăn lại.

Trên nền màu xám khói nhạt in những bông mẫu đơn màu hồng phấn. Chất vải trơn mượt như nước, cầm trong tay nhẹ bẫng.

Tôi gấp chiếc khăn lại như cũ, nhét xuống dưới quân phục rồi đóng cửa tủ.

Tiếng cửa tủ khép lại nặng nề hơn tôi tưởng.

Bữa tối, chị Triệu làm thịt kho tàu.

Lục Tranh ngồi đối diện tôi, quân phục đã cởi ra vắt trên lưng ghế, cúi đầu ăn cơm.

Anh ăn cơm giống như đánh trận, ba đũa thức ăn, hai đũa cơm, chưa bao giờ ngẩng đầu.

Tôi gắp một miếng thịt kho đặt vào bát nhưng không ăn.

“Quân khu Quảng Châu cách chỗ chúng ta bao xa?”

Đôi đũa của anh dừng giữa không trung.

Sau đó, anh tiếp tục gắp một miếng thịt cho vào miệng, hai má phồng lên, nói không rõ tiếng:

“Em nhìn thấy rồi à? Anh chỉ tiện đường thôi.”

“Tiện đường? Anh đến Quân khu Quảng Châu họp quân sự, tiện đường vào cửa hàng bách hóa mua một chiếc khăn lụa?”

Anh bị miếng thịt làm nghẹn, vội bưng ca tráng men uống một ngụm nước lớn.

Chiếc ca va xuống bàn, âm thanh hơi lớn.

“Đúng là tiện đường. Họp xong mọi người đi ăn, anh nhìn thấy ở bên đường.”

Chị Triệu đang rửa bát trong bếp, tiếng vòi nước chảy ào ào.

Tôi cúi đầu ăn một miếng cơm, không hỏi thêm.

Ăn được một nửa, anh đột nhiên đặt bát xuống.

“Màu của chiếc khăn ấy hợp với em.”

Sau đó, anh lại bưng bát lên, ăn hết phần cơm còn lại trong ba đũa rồi đứng dậy rời đi.

Chân ghế ma sát với nền xi măng, phát ra một tiếng động ngắn.

Tôi cúi đầu tiếp tục ăn.

Khi bát đã sạch, tôi ngẩng đầu nhìn bộ quân phục anh vắt trên lưng ghế.

Bên trong cổ áo có một miếng vá nhỏ ở chỗ bị sờn, đường kim dày đặc. Nếu không nhìn kỹ, hoàn toàn không thể phát hiện.

Miếng vá ấy là do tôi khâu.

Khi đó tôi vừa mới gả đến đây. Anh được phát bộ lễ phục thiếu tá đầu tiên, mới mặc hai ngày thì cổ áo đã bị mài rách.

Anh chưa bao giờ dùng những việc này làm phiền người khác. Anh tự lấy hộp kim chỉ, ngồi đó khâu. Những ngón tay thô như kìm sắt, cầm kim còn vụng về hơn tháo kíp nổ.

Tôi đứng bên cạnh nhìn một lúc rồi nói để tôi làm.

Anh nhìn tôi, đưa kim chỉ sang, nói khâu tùy tiện hai mũi là được, dù sao cũng mặc ở bên trong.

Tôi khâu suốt nửa tiếng.

Miếng vá bên trong cổ áo áp sát vào cổ, không thể để đầu chỉ thừa, cũng không thể nổi cục. Từng mũi phải móc chặt vào nhau, sau khi khâu xong còn phải dùng móng tay miết phẳng dấu chỉ.

Ngày hôm sau, anh mặc quân phục đi báo cáo.

Anh không để miếng vá nằm bên trong mà lật cổ áo ra ngoài.

Đó là một trong số ít những ký ức giữa tôi và anh.

Thời gian đã trôi qua quá lâu, tôi tưởng mình đã quên.

Nhưng khi nhìn qua bàn ăn, tôi vẫn có thể nhận ra ngay mấy đường kim do mình khâu. Phần mép được gấp vào hai lần, dày hơn miếng vá của người khác một lớp.

Chị Triệu từ bếp đi ra lau bàn. Khi lau đến trước mặt tôi, chị nói:

“Em gái, hôm nay khẩu vị của cô tốt đấy, ăn thêm một bát cơm.”

Tôi mỉm cười:

“Đúng vậy, khẩu vị rất tốt.”

Một thời gian sau, con trai đã biết ngồi.

Hai bàn tay nhỏ của thằng bé chống xuống đất, eo lắc lư rồi từ từ thẳng lên, giống một cây non vừa được trồng xuống.

Ngồi được ba giây, thằng bé đổ sang một bên.

Lại chống tay ngồi dậy, rồi lại đổ.

Đến lần thứ năm, thằng bé cuối cùng cũng ngồi vững, ngẩng đầu nhìn tôi.

Đôi mắt sáng long lanh.

Chính nó cũng không biết mình đang đắc ý điều gì, chỉ nhe cái miệng chưa có răng cười, nước bọt chảy đầy mặt.

Con gái không vui.

Con bé nằm ở đầu bên kia của chiếc cũi, xoay người, tự thoát khỏi cuộn chăn nhỏ.

Nó lại lăn một vòng, sau đó liên tục lăn ba vòng, từ đầu này sang đầu kia chiếc cũi, đến khi đụng vào lưới chắn mới dừng lại.

Con bé ngửa mặt, thở hổn hển, giống như vừa đánh xong một trận chiến lớn.

Lục Tranh bước vào đúng lúc ấy.

Anh chưa thay giày.

Đôi ủng quân đội dừng lại trên ngưỡng cửa, sau đó anh bước hai bước đến bên chiếc cũi rồi ngồi xổm xuống.

Con gái nhìn thấy anh, lập tức không thở hổn hển nữa. Hai bàn tay mũm mĩm vươn ra, nắm chặt ngón trỏ anh đưa tới.

Con bé nắm rất chặt, cười khanh khách, tiếng cười trong trẻo như tiếng chuông.

Khóe môi anh cong lên.

Chị Triệu thò nửa người ra khỏi bếp, gọi một tiếng:

“Ăn cơm rồi.”

Anh đáp lại, nhưng không rút tay về.

Con gái nắm tay anh, anh liền ngồi yên không nhúc nhích.

Có một ngày, anh trở về rất muộn.