Chuyện này trong các triều đại trước chưa từng có tiền lệ để theo.

Nhưng thánh thượng nói một câu:

“Thời phi thường, nên làm việc phi thường.”

Có lẽ người chỉ cần có người thay người ổn định Tây Bắc.

Cũng có lẽ người thật sự cảm thấy một nữ hầu gia như ta còn hữu dụng hơn đám ngôn quan chỉ biết kêu gào kia.

Những điều này không cần truy cứu sâu.

Quan trọng là, sự an toàn của hầu phủ và sự ổn định của biên quan đều đã có nơi đặt xuống.

Lại qua một năm, Tam hoàng tử được lập làm thái tử.

Trong triều không ai còn dám nhắc bốn chữ “nữ tử lấn quyền” nữa.

Dù sao trong tay thái tử phi đang nắm quyền tiết chế một vạn tinh binh Lương Châu, mà đội binh mã ấy chính là chiếc khóa cuối cùng của cửa ngõ Tây Bắc.

Ngày đại điển lập trữ, ta mặc lễ phục thái tử phi đứng bên cạnh chàng, nhận trăm quan triều hạ.

Chàng nghiêng đầu khẽ hỏi ta:

“Mệt không?”

Ta nói:

“Vẫn ổn.”

Thừa lúc mọi người không chú ý, chàng lén nhét một miếng bánh quế hoa vào lòng bàn tay ta.

“Lót dạ trước đi, lát nữa yến tiệc còn phải chống đỡ mấy canh giờ.”

Ta nắm chặt miếng bánh quế hoa kia, bỗng nhớ đến rất nhiều năm trước, tiểu cô nương bị bóp cổ trong phòng chứa đồ.

Khi ấy, nàng không biết rằng sẽ có một ngày mình đứng trên triều đường Đại Chu, trong tay có quyền, bên cạnh có người, sau lưng có binh.

Nàng chỉ biết phải chịu đựng, phải sống sót, đừng quay đầu.

Ta muốn nói với tiểu cô nương ấy:

Ngươi đã làm được rồi.

19

Năm thánh thượng băng hà, ta hai mươi sáu tuổi.

Tam hoàng tử lên ngôi trước linh cữu, đổi niên hiệu Vĩnh Ninh.

Sau đại điển đăng cơ, chàng nắm tay ta bước lên bậc thềm bạch ngọc của Thái Hòa điện. Trước mặt văn võ cả triều, chàng đỡ ta lên hậu vị.

Chàng nói:

“Hoàng hậu Tô thị là lương phối của trẫm, là công thần của Đại Chu. Trẫm tại đây lập thệ, trong hậu cung sẽ không còn trắc phi, tần ngự. Trọn đời trẫm, chỉ có một mình Tô thị.”

Cả điện đều kinh hãi.

Lại là ngôn quan dâng tấu, lại là tổ tông quy củ không thể trái.

Chàng ngồi trong ngự thư phòng phê tấu chương. Phê đến bản tấu liên danh của đám ngôn quan, chàng nhấc bút son, hạ xuống bốn chữ:

“Ý trẫm đã quyết.”

Bốn chữ này, ta đã đợi rất nhiều năm.

Không phải đợi một nam nhân độc sủng ta.

Mà là đợi một nam nhân nguyện ý dùng toàn bộ quyền thế của chàng để bảo vệ một lời hứa.

Lời hứa này, Lục hoàng tử không giữ được.

Phụ thân ta không giữ được.

Nhưng Ôn Cẩn Du đã giữ được.

Ngày ta được sách phong hoàng hậu, mẫu thân ngồi trong khuê phòng xưa của ta, nhìn mũ phượng áo cưới do Lễ bộ đưa tới, đưa tay sờ lên những viên đông châu đính bên trên.

Tay bà hơi run, giọng nói lại đặc biệt bình tĩnh.

Bà nói:

“A Hành, đời này nương đã chịu rất nhiều khổ, nhưng con chưa từng khiến nương cảm thấy khổ.”

Ta quỳ trước mặt bà, đội mũ phượng lên đầu, nói:

“Nương, về sau nữ nhi sẽ thay người hưởng hết phúc khí trở lại.”

20

Mùa xuân năm Vĩnh Ninh thứ ba, ta trở về Phủ Viễn hầu phủ một chuyến.

Tòa nhà cũ vẫn như xưa, chỉ là càng thêm yên tĩnh.

Xuân di nương đã bệnh chết trong thiên viện. Bà ta mất vào mùa đông năm ngoái, bên cạnh không có lấy một người tiễn đưa lúc lâm chung.

Mẫu thân đã không còn ở chính viện nữa.

Bà chuyển đến tiểu viện ta từng ở khi còn nhỏ, trên khoảng đất trống trong sân trồng ít rau, nuôi hai con gà.

Bà nói viện này thanh tịnh, lại gần cửa sau, tiện cho việc thắp hương lễ Phật.

Ta cùng bà ăn một bữa trưa.

Là cơm bà nấu, cháo trắng rau dưa, hương vị lại dễ chịu hơn cả ngự thiện trong cung.

Ăn đến cuối bữa, bà lấy từ dưới gối ra một chiếc hà bao cũ, đặt vào lòng bàn tay ta.

Hà bao đã hơi ngả vàng, đường kim mũi chỉ xiêu xiêu vẹo vẹo.

Ta nhận ra.

Đó là chiếc hà bao năm bảy tuổi, khi lần đầu học thêu hoa, ta thêu tặng bà.

Bên trên thêu không phải uyên ương, cũng không phải mẫu đơn, mà là một thứ không biết là vịt hay ngỗng.

“Lúc nhỏ con nói, đây là phượng hoàng.”

Mẫu thân cười.

Ta nói:

“Đây rõ ràng là con vịt, người đừng thay con lúc nhỏ chữa thẹn nữa.”

Hai mẫu nữ ngồi dưới nắng chiều, cười thành một đoàn.

Ánh mặt trời phơi trên người ấm áp, gà trong sân kêu cục tác, xa xa trong ngõ truyền đến tiếng rao của người bán hàng rong.

Những âm thanh vụn vặt, bình thường ấy là thứ ta vĩnh viễn không nghe được trong cung.

Nhưng đó lại là thứ mỗi ngày mẫu thân nghe thấy, dùng chúng để từng chút từng chút mài phẳng những thô ráp của tháng ngày cũ.

Trước khi rời đi, ta đứng dưới tấm biển chính đường của hầu phủ, quay đầu nhìn lại một cái.

Tấm biển ấy vẫn là bút tích năm xưa của Thái Tổ hoàng đế:

“Đời đời trung dũng.”

Phụ thân ta cả đời gìn giữ bốn chữ này, cuối cùng đem cả mạng mình trao cho Đại Chu.

Xuân di nương sống cả đời dưới tấm biển ấy, khuấy nhà người khác thành một nồi cháo loạn, cuối cùng chết đi mà không ai tiễn đưa.

Mẫu thân ta chịu đựng hơn nửa đời dưới tấm biển ấy, chịu qua sự bạc bẽo của phu quân, sự độc ác của thiếp thất, cuối cùng đưa nữ nhi của mình lên hậu vị.

Còn ta, khi bước ra khỏi cánh cửa này, vẫn chỉ là một tiểu cô nương bị bóp cổ mà không dám lên tiếng.