Đến lúc đó, ba ty hội thẩm, chúng ta đưa bằng chứng ra hiệu quả sẽ bị giảm đi rất nhiều.
Thậm chí có thể bị coi là bằng chứng giả mạo trong lúc tình thế cấp bách.
Chúng ta phải lấy được bức thư đó trước khi phụ thân về kinh, đem tất cả bằng chứng bày ra trước mặt Hoàng thượng!
Đúng lúc ta và Khương Nguyệt đang bế tắc, một người không ngờ tới đã đến cung Phượng Loan.
Là Quốc sư.
Vị Quốc sư huyền bí năm xưa đã tiên tri Khương Nguyệt mang phượng mệnh, một tay đẩy Khương gia chúng ta lên đầu sóng ngọn gió.
Ông đã nhiều năm không bước chân vào hậu cung.
Hôm nay, ông lại đột ngột đến thăm.
Ông mặc một bộ đạo bào màu xám giặt đến bạc màu, tiên phong đạo cốt, ánh mắt bình thản mà sâu thẳm, dường như có thể nhìn thấu lòng người.
Ông không quan tâm đến những thái giám ngăn cản, đi thẳng đến trước mặt ta và Khương Nguyệt.
Ông nhìn chúng ta, chậm rãi mở lời.
Giọng nói không lớn, nhưng vang rõ trong tai chúng ta.
“Hoàng hậu nương nương, Trưởng công chúa điện hạ.”
“Bần đạo hôm nay đến đây là phụng khẩu dụ của Hoàng thượng.”
“Hoàng thượng nói, ván cờ đã đến lúc thu quan (kết thúc).”
“Người muốn mời hai vị cùng bần đạo đi xem một vở kịch hay.”
19
Lời mời của Quốc sư như một đạo bùa chú không thể chối từ.
Ta và Khương Nguyệt nhìn nhau, trong mắt đối phương đều là sự hoang mang và bất an sâu sắc.
Nhưng chúng ta không có lựa chọn nào khác.
Ở trong hoàng cung này, ý chí của Hoàng thượng chính là thiên ý.
Chúng ta đi theo Quốc sư, xuyên qua những hành lang u tối, đi qua những cung đạo tĩnh mịch.
Suốt dọc đường không gặp bất kỳ cung nhân nào.
Dường như cả hoàng cung đều vì “vở kịch hay” sắp diễn ra mà dọn sạch hiện trường.
Cuối cùng, chúng ta dừng lại trước một tòa điện.
Điện Dưỡng Tâm.
Đây là nơi Hoàng thượng hằng ngày phê duyệt tấu chương, triệu kiến cận thần.
Cũng là trung tâm quyền lực của toàn bộ hoàng cung.
Lúc này, cửa điện đóng chặt, trước cửa đứng hai hàng cấm quân cầm trường kích, thần sắc nghiêm nghị, sát khí rợn người.
Quốc sư tiến lên, nói khẽ vài câu với vị tướng dẫn đầu.
Cánh cửa điện nặng nề kẽo kẹt mở ra một khe hở.
Quốc sư làm động tác “mời”.
Ta và Khương Nguyệt hít một hơi thật sâu, sóng vai bước vào.
Trong điện đèn đuốc sáng trưng, sáng như ban ngày.
Nhưng không khí lại lạnh lẽo hơn cả mùa đông giá rét.
Hoàng thượng ngồi trên long ỷ, trên mặt không có bất kỳ biểu cảm nào.
Ánh mắt Người như một đầm nước cổ sâu không thấy đáy, không nhìn ra bất kỳ gợn sóng nào.
Mà ở phía dưới Người, có hai hàng người đang quỳ.
Hàng bên trái là nhị thúc, nhị thẩm, và cả Khương Nhu đã sợ đến mức mặt không còn giọt máu.
Hàng bên phải, dẫn đầu chính là Lại bộ Thượng thư đương triều.
Phía sau ông ta là phó tướng Bắc Cương mới nhậm chức, Trần Bân.
Còn có vài người chúng ta không quen, nhưng nhìn quan phục thì chắc hẳn cũng là trọng thần trong triều.
Và ở phía trước hai hàng người này, quỳ đơn độc một nam tử trung niên béo mập, mồ hôi đầm đìa.
Thương nhân muối Giang Nam, …Trương Viễn.
20
Lời của Hoàng thượng như một chiếc búa vô hình, giáng mạnh xuống tim của Lại bộ Thượng thư và Trương Viễn.
Sắc mặt bọn họ trong nháy mắt trở nên trắng bệch như Lý Ngự sử.
Thân hình béo mập của Trương Viễn nhũn ra như một vũng bùn trên đất, ngay cả một lời cầu xin cũng không thốt ra được.
Còn Lại bộ Thượng thư, không hổ là con cáo già trầm luân nhiều năm nơi quan trường, vẫn cố gượng giữ bình tĩnh, dập đầu một cái.
“Hoàng thượng minh giám!”
“Thần… thần oan uổng quá!”
“Thần và Trương Viễn này vốn không hề qua lại, càng không biết ‘Quỷ Bút’ là kẻ nào!”
“Tất cả chuyện này đều là do Lý Ngự sử, là hắn huyết khẩu phún nhân (ngậm máu phun người), muốn kéo thần theo để thoát tội!”