Nữ hộ Lục thị đã được lập lại, mẫu thân ta là Lục Hành, với tư cách là gia chủ đời trước, bài vị đương nhiên phải trở về Lục thị.
Bá phụ còn định nói.
Ta lật xấp văn thư nợ tô trong tay.
“Bá phụ cũng có thể không cho.”
“Chỉ là thời hạn bảy ngày ta vừa mới cho phép, cũng không cần chờ nữa.”
Tay ông ta dừng giữa không trung.
Ta đi qua bên cạnh ông ta, tự tay lấy bài vị xuống.
Nó rất nhẹ.
Hai mươi năm Giang gia đè lên người mẫu thân, hóa ra cũng chỉ nhẹ như vậy.
Nửa tháng sau, ta chuyển vào căn nhà cũ mẫu thân để lại ngoài thành.
Căn nhà không lớn, trong sân có một cây lựu đã rất nhiều năm tuổi.
Ta mời người khắc lại một bài vị.
Trên đó chỉ có hai chữ.
Lục Hành.
Khi Xuân Hạnh thu dọn đồ cũ, nàng lại tìm thấy một chiếc hộp gỗ nhỏ.
Bên trong là một bức thư mẫu thân chưa kịp gửi đi.
Thư được viết cho ngoại tổ mẫu.
Chỉ có vài dòng ngắn ngủi.
Bà nói Lệnh Nghi đã biết đi, lá gan rất lớn, ngã xuống cũng không khóc.
Bà còn nói, nếu có một ngày mình không còn nữa, chỉ mong nữ nhi không bị giam cầm trong Giang gia, không cần làm hiền thê hiếu nữ của bất kỳ ai, chỉ cần có thể bình an sống tiếp.
Giấy thư đã ố vàng.
Ta nhìn rất lâu rồi gấp lại.
Xuân Hạnh đứng bên cạnh, nhỏ giọng hỏi:
“Cô nương muốn thờ bức thư này sao?”
“Không thờ.”
Ta cất bức thư vào hộp của mình.
“Bà viết thư cho ta không phải để ta thờ lạy bà.”
Ngoài cửa sổ có người tới báo, đợt lúa mì mới đầu tiên của năm nay đã được nhập kho, mời ta đích thân tới kiểm tra.
Ta dẫn Xuân Hạnh tới kho lương, tùy ý chỉ vào một bao nằm sâu nhất bên trong.
Dây gai được cắt ra, những hạt lúa mì vàng óng lăn đầy mặt đất.
Không có cát, cũng không có lương thực cũ bị mốc.
Xuân Hạnh ngồi xuống nhặt, lại ngẩng đầu hỏi ta có muốn nấu chảy cây trâm vàng đã bị cong, làm lại một cây trâm đẹp hơn không.
Ta cắm cây trâm trở lại tóc.
“Không cần.”
Ngoài cổng viện, tấm biển mới vừa được treo lên.
Trên đó chỉ có ba chữ.
Lục Lệnh Nghi.