Lúc tôi chụp ảnh trên vùng cao bị hỏng xe giữa đường, đội cứu hộ chỉ 10 phút sau đã có mặt, nói rằng “Có người đã báo cáo trước về tuyến đường này.”

Mỗi bức ảnh tôi đăng lên mạng xã hội, cứ đúng 2 giờ sáng anh sẽ ấn like, rồi lại hủy. Giống như vừa sợ bị tôi nhìn thấy, lại vừa sợ tôi không thấy.

Nhưng tôi chưa từng nhìn anh lấy một lần. Không phải cố tình né tránh, mà là tôi thực sự không còn bận tâm nữa.

Tề Ngạn Châu không biết từ lúc nào cũng đã đi theo. Anh ta tựa vào cây cột trước cửa phòng triển lãm, nhìn Thẩm Vân Tranh đằng xa lại đang lảng vảng dưới lầu khách sạn tôi ở, cười khẩy một tiếng, như thể nhìn thấy chính mình năm xưa.

“Đừng ngốc nữa.” Anh ta châm một điếu thuốc, khói thuốc làm mờ đi biểu cảm: “Bây giờ cho dù mày có chết ngay trước mặt Nhiên Nhiên, cô ấy cũng sẽ không nhìn mày thêm một cái nào đâu.”

Thẩm Vân Tranh không nhúc nhích, ánh mắt vẫn khóa chặt vào ô cửa sổ đó.

Tề Ngạn Châu nhả ra một vòng khói, giọng nhạt nhòa: “Những việc mày đang làm, tao đã làm hết rồi. Hơn nữa tao còn làm liên tục suốt ba năm, vô ích thôi.” Anh ta gõ gõ tàn thuốc, như đang kể về một chuyện đã xa xăm lắm: “Tao đã phải dùng hơn nửa đời người mới ngộ ra được, kể từ khoảnh khắc tao phản bội cô ấy, tao và cô ấy đã trở thành hai đường thẳng song song vĩnh viễn không bao giờ giao nhau.”

“Tính cách của Thư Nhiên ấy mà, trong mắt không chứa nổi một hạt cát. Khi cô ấy yêu một người, có thể hy sinh cả tính mạng, một lòng một dạ. Nhưng một khi người đó chạm đến giới hạn của cô ấy…” Anh ta khựng lại, dập tắt điếu thuốc: “Thì đó là chuyện của cả đời. Không có đường lùi, cũng không có chuyện tha thứ.”

Thẩm Vân Tranh rốt cuộc cũng quay đầu lại, đôi mắt đỏ ngầu nhìn anh ta.

Tề Ngạn Châu nhếch mép, nụ cười đó còn khó coi hơn cả khóc: “Đừng nhìn tao như thế, tao chỉ là hiểu ra đạo lý này sớm hơn mày thôi.”

Đêm đó, Thẩm Vân Tranh đứng dưới lầu suốt một đêm. Sáng sớm hôm sau, anh đi mất.

Sau đó, anh không quấy rầy nữa. Không gửi lẵng hoa, không trả tiền phòng, cũng không sắp xếp đội cứu hộ trước nữa. Nhưng ở mỗi buổi triển lãm của tôi, khi ngọn đèn cuối cùng vụt tắt, tôi luôn nhìn thấy một bóng hình quen thuộc đứng lặng lẽ từ xa, xem xong rồi đi.

Mỗi bức ảnh của tôi sau khi đăng lên, cái like lúc 2 giờ sáng vẫn xuất hiện đúng giờ, rồi lại bị hủy, giống như một thói quen không thể bỏ.

Anh và Tề Ngạn Châu giống nhau, từ một kẻ điên cuồng đeo bám, biến thành một cái bóng âm thầm canh giữ.

Còn tôi, cuối cùng cũng sống thành dáng vẻ mà mình thích nhất. Nhiếp ảnh trở thành ngôn ngữ duy nhất của tôi. Ống kính của tôi không còn chĩa vào sự kỳ vọng của người khác nữa, mà chỉ chĩa vào những phong cảnh tôi thực sự muốn nhìn ngắm. Những ngọn núi tuyết, hồ nước, sa mạc, thảo nguyên, chúng chân thật hơn bất kỳ lời hứa hẹn nào, bao la hơn bất kỳ vòng tay nào.

Năm thứ ba, tôi giành được giải thưởng cao nhất về nhiếp ảnh phong cảnh thiên nhiên trong nước. Trên bục nhận giải, MC hỏi tôi: “Điều gì đã nâng bước chị đi đến ngày hôm nay?”

Tôi nghĩ ngợi một lúc, mỉm cười: “Là sự tự do.”

Dưới khán đài có người vỗ tay, có người rơi nước mắt. Tôi không nhìn về hàng ghế cuối cùng của khán đài.

Năm thứ tư, tôi xuất bản cuốn sách ảnh đầu tiên, tên vẫn gọi là “Rời đi”. Tại buổi ký tặng, có người hỏi tôi trạm tiếp theo sẽ đi đâu. Tôi đáp: “Không biết nữa, đến nơi rồi tôi sẽ kể cho các bạn.”

Năm thứ năm, tôi tự mua cho mình một căn nhà nhỏ xíu, nằm trong một cổ trấn ở Vân Nam, mở cửa sổ ra là nhìn thấy núi tuyết. Tôi sơn nó màu trắng ấm, ngoài ban công trồng đầy hoa, trong bếp bày biện đầy đủ dụng cụ nấu nướng. Không phải vì ai cả, mà là vì chính bản thân tôi.

Thi thoảng có bạn bè hỏi tôi: “Một mình không cô đơn sao?”