Sau lưng tôi là tiếng gầm rú đan xen đau đớn và oán độc của Vương rỗ.

“Bắt lấy nó! Giết nó!”

“Tao nhất định phải giết chết con đĩ này ——!”

Rất nhanh, tiếng gọi nhau ầm ĩ và tiếng chó sủa của dân làng lại vang lên trong rừng.

Họ đã quay lại.

Họ phát hiện mình bị lừa rồi.

Một cuộc truy lùng điên cuồng hơn, đẫm máu hơn bắt đầu.

Tôi ôm con, tay lăm lăm cây rìu, thục mạng bỏ chạy trong rừng.

Điện thoại vệ tinh bị tôi nắm chặt.

“A lô?”

“Hải Đăng? Anh còn đó không?”

Tôi thở hổn hển, giọng khản đặc.

“Tôi đây.”

Giọng nói bình tĩnh đến đáng sợ kia lại cất lên.

“Đồng chí Hứa An, cô làm tốt lắm.”

“Từ giờ phút này, hãy nghiêm ngặt tuân theo chỉ thị của tôi.”

“Cơ hội sống sót của cô chỉ còn mong manh như sợi chỉ.”

“Tôi sẽ dẫn đường cho cô nắm lấy nó.”

05

Một tia sống sót mỏng manh.

Tôi biết anh ấy nói sự thật.

Tiếng truy đuổi phía sau ngày càng gần, tôi có thể nghe rõ tiếng bẻ gãy cành cây “rắc rắc”.

Thậm chí ngửi thấy mùi máu tanh nồng từ bọn chó săn thoảng trong gió.

Vương rỗ chưa chết.

Hắn dẫn theo đám dân làng còn lại, như bầy thú hoang bị chọc điên, thề phải xé xác tôi ra.

“Nghe này.”

Trong điện thoại, giọng “Hải Đăng” không mảy may chút cảm xúc nào, nhưng lại như một con dao phẫu thuật sắc bén, mổ xẻ tường tận tình thế tuyệt vọng trước mắt tôi.

“Vị trí hiện tại của cô nằm ở hướng chính Bắc của thôn, trên sườn núi có độ cao khoảng bảy trăm mét.”

“Đừng quay đầu lại, đừng dừng lại, tiếp tục chạy lên cao.”

“Chạy về phía đỉnh núi.”

“Tại sao?”

Tôi không hiểu, hỏi lại.

Thể lực của tôi đã cạn kiệt đến giới hạn, chạy lên dốc chỉ càng vắt kiệt sức lực nhanh hơn.

“Vì chúng thông thạo địa hình rừng núi. Chạy đường bằng hay xuống dốc, cô không có chút lợi thế tốc độ nào.”

“Chỉ có chạy lên dốc mới có thể nới rộng khoảng cách tối đa.”

“Chúng đông người, phải chờ đợi lẫn nhau, còn cô chỉ có một mục tiêu duy nhất: đỉnh núi.”

“Quan trọng nhất, cây thần thụ trên đỉnh núi là tọa độ hạ cánh tốt nhất cho trực thăng.”

Trực thăng.

Tim tôi giật thót.

Thì ra đó là kế hoạch họ dùng để cứu tôi.

“Nhưng… chúng có chó săn.”

Tôi tuyệt vọng nói.

“Tôi chạy nhanh đến mấy cũng không qua nổi mũi chó.”

“Tôi biết.”

Giọng “Hải Đăng” vẫn bình tĩnh.

“Vì vậy, cô phải xóa sạch mùi trên người.”

“Phía trước bên trái cô, cách khoảng 50 mét, có một bạt ngải cứu dại.”

“Lá dày, mùi cay nồng xộc mũi.”

“Tìm thấy nó, vò nát lấy nước cốt bôi khắp người, kể cả đứa bé.”

“Nhanh lên, cô chỉ có chưa đầy 3 phút.”

Không dám nghi ngờ nửa lời, tôi lập tức lao về phía khu rừng rậm bên trái theo chỉ thị.

Quả nhiên, một bạt ngải cứu cao ngang nửa người hiện ra trước mắt.

Tôi không kịp suy nghĩ, điên cuồng vặt những nắm lá ngải cứu lớn, dùng đá đập nát trên tay, rồi bôi trét chất nước cốt màu xanh lục có mùi hăng hắc đó lên người, lên mặt, lên tóc.

Tôi mở tã lót, bôi luôn lên người đứa con đang ngủ say.

Mùi hăng xộc thẳng vào mũi làm nước mắt tôi giàn giụa.

Nhưng trong tim tôi, một tia hy vọng lại rực cháy.

“Xong rồi.”

Tôi khàn giọng nói.

“Bước tiếp theo?”

“Tiếp tục leo lên.”

“Chú ý dưới chân, cố gắng dẫm lên đá, đừng để lại dấu chân trên nền đất.”

“Trình Sơn từng dạy cô cách xác định hướng gió.”

“Nhớ kỹ, luôn đi ngược chiều gió.”

Trình Sơn từng dạy tôi…

Trong đầu tôi hiện lên nụ cười hiền lành của gã đàn ông đó.

Anh từng chỉ vào khói bếp bay trên trời, nói với tôi:

“Em nhìn khói bay về hướng nào, thì gió thổi từ hướng ngược lại.”

“Bọn súc sinh trên núi mũi thính lắm. Nếu em đứng xuôi chiều gió, cách hai dặm chúng cũng ngửi thấy.”

Lúc đó tôi tưởng anh chỉ nói đùa.

Không ngờ, những câu chuyện phiếm tưởng chừng vô thưởng vô phạt ấy lại trở thành kiến thức cứu mạng tôi ngày hôm nay.