“Ca ca, huynh trở về đi, ta sẽ gọt đao gỗ cho huynh.”
Nửa năm sau, Khúc Chiếu Dã trở lại kinh thành.
Huynh ấy gầy đi rất nhiều, trên mặt có thêm hai vết sẹo, cánh tay phải buông thõng bên người, không thể nâng lên nữa.
Huynh ấy đứng trước cửa phủ nhìn ta, cố nở một nụ cười.
“Lan Lan cao lên rồi.”
Ta nhào vào lòng huynh ấy, khóc đến cả người run rẩy.
Huynh ấy dùng tay trái nhẹ nhàng vỗ lưng ta.
“Đừng khóc, ca ca vẫn sống mà.”
Đêm ấy, trong phủ không có một ai cười nổi.
Nhưng cũng không ai khóc.
Bởi Khúc Chiếu Dã ngồi bên bàn, dùng tay trái cầm đũa, gắp một miếng thịt kho bỏ vào miệng rồi hài lòng gật đầu.
“Vẫn là thịt ở nhà ngon.”
Đại bá mẫu đỏ mắt mắng huynh ấy:
“Con chỉ biết ăn!”
Huynh ấy cười hì hì.
Sau đó, tổ mẫu sắp xếp cho huynh ấy một công việc mới.
Quản hộ vệ trong phủ.
Ban đầu huynh ấy không vui, cảm thấy ở nhà trông cửa chẳng có tiền đồ.
Tổ mẫu chỉ nói một câu:
“Ngay cả cửa nhà mình ngươi còn không giữ nổi, vậy giữ biên quan kiểu gì?”
Huynh ấy im lặng rất lâu rồi nhận việc.
Từ đó, mỗi ngày trời chưa sáng, huynh ấy đã dẫn hộ vệ tuần tra trong phủ, thuộc rõ từng bức tường, từng cánh cửa.
Năm ta mười bốn tuổi, kinh thành xảy ra một chuyện lớn.
Thái tử Lý Thừa Càn bị tố cáo âm thầm cấu kết ngoại thích, tự ý luyện binh, mưu đồ tạo phản.
Chứng cứ xác thực, Thánh thượng nổi giận, phế Thái tử thành thứ dân, giam tại hoàng lăng.
Đông cung chỉ trong một đêm bị niêm phong, cả Lý gia vào ngục, vị đích nữ Lý gia từng gả vào Đông cung cũng bị phế thành thứ dân, đưa về quê quán.
Khi tin truyền tới, ta đang ngồi dưới hành lang xem Khúc Triệu Lân thử chiếc guồng nước cơ quan mới làm.
Guồng nước quay kẽo kẹt, những miếng đồng dưới ánh nước lóe lên từng hồi.
Ta nhìn rất lâu rồi đặt nó trở lại bàn.
“Tam ca, huynh nói xem, một người cứ luôn muốn cướp đồ của người khác, có phải cuối cùng chẳng giữ được gì không?”
12
Khúc Triệu Lân không ngẩng đầu.
“Đương nhiên rồi. Phúc khí của con người đều có số. Ngươi chiếm của người khác, sớm muộn cũng phải trả.”
Ta không nói nữa.
Chỉ nhớ cái lạnh dưới đáy hồ băng kiếp trước, nhớ nụ cười của Khúc Nhược Tuyết khi giẫm nát chiếc đèn ngọc thỏ của ta.
Bây giờ, Thái tử mà nàng từng muốn gả cho đã bị phế.
Khúc gia mà nàng từng muốn hại vẫn bình an.
Người từng đẩy ta xuống hồ không biết đang dừng chân ở thôn hoang quán vắng nào, trên người có lẽ vẫn mặc bộ áo vải thô đã giặt bạc màu ở trang viên.
Còn ta ngồi dưới mái hiên Khúc gia, phơi nắng xuân ấm áp, trong tay lật bài tập mới Lâm phu tử giao.
Ta không biết đó có được gọi là phúc khí hay không.
Nhưng ta biết vậy là đủ rồi.
Năm mười lăm tuổi, tổ mẫu đổ bệnh một trận.
Bệnh không nặng, chỉ ho nửa tháng, ban đêm ngủ không yên.
Ta canh bên giường, đọc cho bà nghe bài thơ mới học.
Bà nhắm mắt nghe, đột nhiên lên tiếng:
“Lan Lan, con có từng oán tổ mẫu không?”
“Oán chuyện gì?”
“Oán tổ mẫu năm xưa ôm Nhược Tuyết về.”
Ta đặt sách xuống, nghiêm túc nhìn bà.
“Tổ mẫu, Khúc gia chưa từng có lỗi với nàng.”
“Con đường nàng đi là do nàng tự chọn.”
“Con đường ta đi cũng do chính ta chọn.”
Tổ mẫu mở mắt, nhìn ta rất lâu rồi đưa tay xoa đầu ta.
“Con sáng suốt hơn phụ thân con.”
Ta bật cười.
“Tổ mẫu cứ khen con đi.”
Cuối cùng bà cũng cười.
Mùa đông năm ấy, Khúc Chiếu Dã thành thân.
Huynh ấy cưới nhị cô nương Triệu gia của tiệm tơ lụa phía đông thành, tính tình sảng khoái, giọng rất lớn, lần đầu tới phủ đã dám tranh miếng bánh hoa quế cuối cùng với Khúc Chiếu Dã.
Tổ mẫu rất thích nàng, nói cô nương này có số vượng gia.
Ngày thành thân, Khúc Chiếu Dã mặc hỉ bào đỏ rực, dùng tay trái dắt tân nương bước vào cửa.
Khi huynh ấy quỳ lạy ở chính đường, ta đứng trong góc, nhìn thấy vai phải huynh ấy hơi trĩu xuống, dường như vẫn chưa quen với việc chỉ còn một cánh tay có thể dùng sức.
Nhưng lưng huynh ấy vẫn thẳng tắp.
Dưới khăn trùm đỏ của tân nương lộ ra một đoạn cổ trắng nõn, vành tai đỏ như sắp nhỏ máu.
Ta nhìn họ bái thiên địa, bái cao đường, cuối cùng phu thê giao bái.
Khoảnh khắc lễ thành, pháo nổ vang khắp sảnh, giấy đỏ rơi đầy đất.
Ta lặng lẽ lau khóe mắt.
Kiếp trước Khúc Chiếu Dã chết ở biên quan, hài cốt chẳng còn.
Kiếp này huynh ấy ngồi trong chính đường, dùng tay trái nâng chén, kính tất cả mọi người một chén rượu.
Đủ rồi.
Mùa thu năm ta mười sáu tuổi, ta nhận được hôn thư của Tô gia Giang Nam.
Tô gia là thế gia thư hương, ba đời đều là thanh lưu danh thần, gia phong vô cùng nghiêm chính.
Đích trưởng tử Tô Nghiễn Trì của Tô gia từng gặp ta một lần tại thọ yến tổ mẫu hai năm trước, sau đó âm thầm nhờ người hỏi thăm rất lâu mới chính thức tới cầu thân.
Mẫu thân cầm hôn thư, lật qua lật lại xem ba lần rồi hỏi ta:
“Lan Lan, con có bằng lòng không?”
Ta nhận hôn thư, cẩn thận đọc một lượt.
Tô Nghiễn Trì, tự Hoài An, mười chín tuổi, chưa cưới vợ, không có thiếp thất, không có nha hoàn thông phòng, tính tình ôn hòa, thích đọc sách, yêu cổ cầm.
Ta gấp hôn thư lại, đặt vào hộp.
“Mẫu thân, con bằng lòng.”
13
Mẫu thân bật cười, cười một lúc hốc mắt lại đỏ lên.