“Cố Diễn Chu, ta ở Cố gia nhà các người ba năm. Hơn chín trăm ngày. Chàng bước vào viện của ta mấy lần? Ba lần. Lần đầu tiên là đêm thành thân, chàng ngủ ở sát mép giường ngoài cùng, ở giữa cách hai cái gối. Lần thứ hai là hôm trước ngày ta đề nghị hòa ly, chàng đứng dưới gốc cây lựu của ta nói một câu ‘có lỗi với nàng’. Lần thứ ba —”
Ta ngập ngừng.
“Không có lần thứ ba. Tổng cộng chỉ có hai lần.”
Mắt hắn đỏ hoe.
“Tri Ý —”
“Ta tên là Thẩm Tri Ý.” Ta nói, “Chàng có gọi quen hay không, cũng chẳng liên quan gì đến ta nữa rồi. Chàng đi đi. Chuyện của Ôn gia, phải tra xét thế nào thì sẽ tra xét thế ấy. Nếu chàng cảm thấy Cố gia bị oan, thì đi tìm phụ thân ta, đừng tìm ta.”
“Người ta tìm không phải là Thừa tướng.” Giọng hắn nhỏ dần, nhỏ đến mức gần như không nghe thấy, “Người ta tìm là nàng.”
Ta nhìn hắn ba nhịp thở.
Rồi xoay người.
“Mạnh bá, đóng cửa.”
Cửa lớn khép lại ngay trước mặt hắn.
Khe cửa ngày càng hẹp, cuối cùng chỉ còn lại một tia sáng.
Xuyên qua tia sáng đó, ta thấy hắn đứng chôn chân tại chỗ, đèn lồng chiếu rọi cái bóng của hắn, vừa dài vừa mỏng manh, xiêu vẹo in trên phiến đá xanh.
Cửa đóng chặt.
Ta tựa lưng vào cánh cửa, ngẩng đầu nhìn trời.
Trăng rất tròn.
Gió thổi qua, mang theo hương hoa dành dành từ hậu hoa viên phủ Thừa tướng.
Một mùi hương nồng nàn, tràn trề nhựa sống, mang theo chút gì đó ngọt ngào đến ngang ngược.
Mười
Vụ án của Ôn gia thẩm tra mất nửa tháng.
Ôn Thừa Ân tham ô quân lương mười hai vạn lạng bạc trắng, tư thông với thương nhân buôn muối, làm giả sổ sách quân nhu. Bằng chứng rành rành, án đã định như đinh đóng cột.
Phán quyết là tịch thu tài sản, đày đi Lĩnh Nam.
Ôn Nhược Đường không bị đày đi.
Cố gia đã bảo vệ cô ta.
Cố Diễn Chu quỳ trước đại đường Hình bộ, dập đầu ba cái, dùng ba đời quân công của Cố gia ra bảo đảm, vớt Ôn Nhược Đường ra khỏi danh sách bị lưu đày.
Lúc tin tức truyền đến phủ Thừa tướng, ta đang ăn sáng.
Một bát cháo trắng, hai đĩa thức ăn nhỏ, một đĩa ngó sen ướp hoa quế.
Thanh Hòa đứng bên cạnh, biểu cảm trên mặt cực kỳ đặc sắc — muốn cười không dám cười, muốn tức lại không tức nổi, cuối cùng nặn ra được một câu: “Tiểu thư, Cố Diễn Chu hắn —”
“Ta biết rồi.”
“Hắn lại lấy quân công ra bảo vệ Ôn Nhược Đường! Đó chính là —”
“Ta biết rồi.”
Ta gắp một lát ngó sen, bỏ vào miệng nhai nhai. Giòn giòn, ngọt ngọt.
“Ngài biết rồi? Chỉ vậy thôi sao?” Thanh Hòa cuống lên, “Tiểu thư ngài không tức giận ư?”
“Tại sao phải tức giận?”
“Hắn —”
“Hắn muốn bảo vệ Ôn Nhược Đường, đó là chuyện của hắn.” Ta đặt đũa xuống, lau miệng, “Ba năm rồi, mọi lựa chọn của nam nhân này, chưa từng liên quan gì đến ta cả. Ta lấy cớ gì để tức giận?”
Thanh Hòa nghẹn lời.
Ta đứng dậy, đi đến bên cửa sổ.
Ngoài sân, Tri Nhu đang múa quyền dưới gốc cây hoa quế. Muội ấy sức khỏe yếu, đại phu bảo phải vận động nhiều, phụ thân đã đặc biệt mời một giáo tập ma ma về dạy.
Từng chiêu từng thức, rất bài bản.
“Nói thay ta với cha một tiếng.” Ta nói, “Vụ án Ôn gia, dừng ở Ôn Thừa Ân thôi. Ôn Nhược Đường nếu đã được cứu ra rồi, thì đừng truy cứu nữa.”
“Tiểu thư?”
“Giặc cùng đường chớ dồn ép. Cố Diễn Chu lấy quân công bảo vệ cô ta, đã lật bài ngửa của mình ra rồi. Hắn đang cho tất cả mọi người thấy, Ôn Nhược Đường là vảy ngược của hắn. Cha là người thông minh, sẽ hiểu thế nào là biết điểm dừng.”
Thanh Hòa hé miệng, lời đã đến cổ họng lại nuốt xuống.
“Còn một chuyện nữa.” Ta nói.
“Tiểu thư cứ dặn.”
“Giúp ta dò la chút tình hình của An An. Không cần quá chi tiết, chỉ là — dạo này con bé có khỏe không. Ăn uống thế nào, ngủ nghỉ ra sao.”
Thanh Hòa sững lại một lát, rồi gật đầu thật mạnh.
“Nô tỳ đi ngay.”
Hai ngày sau, tin tức Thanh Hòa mang về làm ta phải buông đũa xuống.
“An An gầy đi rồi.” Giọng Thanh Hòa ép rất thấp, “Hạ nhân Cố gia nói, từ lúc Ôn cô nương được cứu về, tâm trạng rất tệ, động một tí là cáu gắt. An An không dám lên tiếng trước mặt cô ta, cơm cũng nuốt không trôi. Cuối tháng trước, An An sốt cao liền ba ngày, Cố Diễn Chu ra khỏi thành làm việc không có ở nhà, ma ma hầu hạ Cố lão phu nhân định đi thỉnh đại phu, bị Ôn Nhược Đường cản lại.”
Ngón tay ta siết chặt.
“Cản lại?”
“Ôn cô nương nói, trẻ con sốt là chuyện bình thường, ủ cho ra mồ hôi là khỏi. Ma ma không dám cãi lại cô ta, nên thật sự không mời đại phu nữa. Sau đó một lão bộc gác cổng không nhìn nổi, tự bỏ tiền túi đi mời một lang băm đi rong.”
Ta không nói gì.
“Còn nữa —” Thanh Hòa ngập ngừng, lấy từ trong tay áo ra một thứ.
Một chiếc hài đầu hổ.
To cỡ lòng bàn tay, đầu hổ thêu xiêu vẹo, đường kim mũi chỉ thô vụng vô cùng.
“Cái này là của An An.” Thanh Hòa nói, “Lão bộc gác cổng kia lén mang ra. Ông ấy nói An An luôn giấu chiếc hài này dưới gối, không cho ai chạm vào.”
Ta nhận lấy chiếc hài.
Ngón tay sờ thấy một dòng chữ dưới đế hài — “Tri Ý tự tay làm”.
Đây là năm An An chào đời, ta tự tay khâu cho con bé.
Khâu suốt ba ngày, kim đâm vào tay không biết bao nhiêu lần.
Ta cứ tưởng con bé chưa từng mang nó.