Ngọn lửa cuốn lấy góc giấy, rất nhanh thiêu thành tro.
Ngày Lục Văn Xuyên hành hình, trời đổ mưa phùn.
Nghe nói trước khi chết ông vẫn còn gào lên rằng mình đã nuôi ta năm năm, cho dù không có công lao thì cũng có khổ lao.
Giám trảm quan mắng ông:
“Ngươi nuôi trẻ con sao? Ngươi nuôi lá bùa giữ mạng của mình thì có!”
Khi đao hạ xuống, ta đang ở Trường Ninh điện cùng nương phơi nắng .
Trong tay nương cầm một đoạn xích sắt cũ.
Đó là thứ được tháo xuống từ phòng củi.
Ta hỏi bà:
“Nương, còn đau không?”
Bà nhìn đoạn xích rất lâu.
“Đau.”
Hốc mắt ta lập tức đỏ lên.
Nhưng bà lại đưa tay xoa mặt ta.
“Nhưng bây giờ có thể nói là đau rồi.”
Hoàng đế ngày nào cũng tới.
Ban đầu, người chỉ dám đứng ngoài rèm.
Sau đó nương cho người vào, người liền ngồi thật xa, đọc thư từ Giang Nam gửi tới cho bà, bóc quýt cho bà, rồi xâu lại ngọc quyết song ngư.
Miếng ngọc sau khi ghép lại vẫn còn vết nứt.
Ta nhìn nó rất lâu.
Hoàng đế hỏi:
“Con đang nhìn gì?”
Ta nói:
“Thứ đã từng vỡ, cho dù ghép lại, vẫn còn khe nứt.”
Người im lặng.
Nương nghe thấy nhưng không nói gì.
Sau đó, hoàng đế ban xuống ba đạo thánh chỉ.
Đạo thứ nhất, điều tra lại tất cả những vụ án trên khắp các địa phương lấy danh nghĩa mắc bệnh điên để tự ý giam giữ thê tử và nữ nhi.
Đạo thứ hai, liệt Khiên Hồn tán cùng các loại thuốc gây tổn hại thần trí vào danh sách cấm dược, kẻ tự ý chế tạo hoặc sử dụng đều bị luận tội theo hành vi hại mạng người.
Đạo thứ ba, quan lại và nhà quyền quý không được tự ý khóa nhốt nữ quyến.
Nếu nói người mắc bệnh, phải báo quan kiểm tra và do y quan chẩn đoán lại, gia chủ không được chỉ bằng một câu quyết định sống chết của người khác.
Trong triều có người nói đây là vì tình cũ mà gây nên đại án.
Hoàng đế hỏi ngay trên triều:
“Nếu người bị khóa trong phòng củi là mẫu thân, thê tử hay nữ nhi của các khanh, các khanh cũng chê trẫm quản quá rộng sao?”
Cả triều im lặng.
Cuối xuân, nương nói muốn quay lại Lục phủ nhìn một lần.
Lục phủ đã sớm bị niêm phong.
Trên cửa vẫn còn dán giấy phong.
Căn phòng củi ở hậu viện đã bị tháo mất một nửa.
Ván gỗ mốc meo.
Góc tường vẫn còn dấu vết do xích sắt mài ra.
Ta đứng ngoài cửa vẫn cảm thấy sợ.
Nhưng nương lại bước vào.
Bà đưa tay chạm lên cánh cửa sổ từng bị đóng đinh kín.
Ánh mặt trời xuyên qua khe hở đã bị phá ra, rơi trên gương mặt tái nhợt của bà.
Bà nhìn rất lâu rồi đột nhiên nói:
“Tuế An, trước kia nương luôn cảm thấy mình sẽ chết ở đây.”
Mũi ta cay xè.
Bà quay đầu nhìn ta, khẽ cười.
“Nhưng con đã gọi mở cánh cửa ấy.”
Giọng nói xuất hiện sau trận sốt cao kia không bao giờ vang lên nữa.
Ta không biết nó là ai.
Có lẽ là thần Phật.
Cũng có lẽ là năm năm máu và nước mắt của nương ngưng tụ thành một lời nhắc nhở, cuối cùng len vào giấc mộng của ta.
Nhưng ta sẽ mãi nhớ đêm Trung thu ấy.
Ta quỳ giữa đại điện ngập ánh đèn, gọi ra một tiếng cha.
Tiếng gọi ấy đã gọi cấm quân tới.
Gọi mở phòng củi.
Gọi vỡ phượng quan.
Cũng gọi lại cái tên đã bị cướp mất của nương ta.
Những lời nương lẩm bẩm suốt năm năm không phải lời điên.
Ngọc của bà bị cướp.
Phương thuốc bị cướp.
Túi thơm bị cướp.
Tên bị cướp.
Cả cuộc đời cũng bị cướp.
Nhưng từ ngày hôm ấy trở đi, những kẻ cướp đồ đều phải trả giá.
Còn tất cả những thứ từng bị cướp mất cuối cùng cũng từng món từng món trở về tay bà.