“Anh bạn, cái vò này tôi xem rồi, chất đất không đúng, màu men cũng không đủ đều, chắc là đồ mô phỏng thời Dân Quốc.” Giọng ông ta rất thành khẩn, “Loại đồ này ngoài thị trường nhiều lắm, chẳng đáng bao nhiêu tiền đâu.”
Mặt ông lão lập tức xị xuống.
“Nhưng ông nội tôi nói đây là đồ cuối thời Thanh mà…”
“Haizz, nhiều người già đều nói vậy, nhưng thực ra anh xem cái đáy này này.” Ông ta chỉ vào đáy vò, nói một tràng thuật ngữ chuyên môn.
Ông lão nghe mà như lọt vào sương mù, cuối cùng hỏi: “Vậy anh có thu không?”
“Thu thì thu được, nhưng loại đồ mô phỏng này chúng tôi cũng bán không được giá, nhiều nhất chỉ có thể trả cho bác… tám trăm?”
Ông lão do dự một lát, rồi gật đầu.
Người đàn ông mặt vuông cười cười viết biên lai.
Còn tôi nhìn thấy một chuyện khác.
Phía trên cái vò men xanh hoa lam ấy, dòng chữ nổi hiện ra rõ ràng:
“【Bình đậy men xanh hoa lam văn dây leo mẫu đơn cuối thời Thanh, hàng gốm dân lò tinh phẩm, tình trạng hoàn hảo, giá tham khảo thị trường: 38.000 tệ】”
Ba vạn tám.
Hắn chỉ trả tám trăm để mua.
Tôi mặt không cảm xúc dời mắt đi, giả vờ đang nhìn mấy món trưng bày trong tủ kính.
Đồng thời, ánh mắt tôi lướt qua từng món đồ trong tiệm.
Dòng chữ nổi lần lượt hiện lên. Trong tủ kính là một cái bát “đời Tống” giá 120.000 tệ
“【Đồ giả cao cấp hiện đại, sản xuất tại Cảnh Đức Trấn, giá thành: 600 tệ】”
Trong góc có một pho tượng Phật đồng “thời Minh”, giá tám vạn
“【Đúc thời Dân Quốc, qua xử lý làm cũ, giá trị thực tế khoảng 3.500 tệ】”
Trong tủ kính còn khóa một món “phỉ thúy móc treo đời Thanh”, giá niêm yết hai trăm năm mươi nghìn.
“【Phỉ thúy B hàng Miến Điện, ngâm axit bơm keo, giá trị thực tế không quá 2000 tệ】”
Cả cửa tiệm, những món có giá cao nhất, không một món nào là thật.
Nhưng…
Ánh mắt tôi dừng lại ở một góc khuất nhất trên quầy.
Ở đó có một cái giỏ nhỏ, bên trong tùy tiện ném hơn chục món đồ linh tinh, một chiếc gương đồng nhìn bẩn bẩn, mấy đồng tiền đồng, và một cái bình hít thuốc lá bị nứt miệng.
Bên cạnh cái giỏ còn dán một mẩu giấy viết tay: “Đồ lặt vặt xử lý, mỗi món 50-200 tệ”.
Phía trên chiếc gương đồng ấy lơ lửng một hàng chữ vàng:
“【Gương đồng hoa văn dây leo trái nho và thú biển thời Đường, tình trạng trên trung bình, giá tham khảo thị trường: 280000 tệ】”
Hai mươi tám vạn.
Thế mà lại bị ném vào cái giỏ xử lý năm mươi tệ.
Tim tôi khẽ đập mạnh một nhịp.
Tôi quay người, chậm rãi đi đến trước quầy.
Ông chủ mặt vuông vừa tiễn ông lão kia đi, đang ngồi đếm tiền, thấy tôi tiến lại thì ngẩng đầu cười cười.
“Cậu em, để ý món nào à?”
Dòng chữ nổi trên đầu ông ta:
“【Người này đang đánh giá sức mua của bạn, phán đoán: học sinh, không có uy hiếp, có thể bỏ qua】”
Tôi chỉ vào cái giỏ đồ lặt vặt ở góc.
“Đống đồ trong đó có chọn được không?”
“Được chứ, cứ chọn tùy ý.” Ông ta phẩy tay, “Toàn là mấy thứ ve chai thu về, chẳng có món nào đáng tiền đâu, cậu ưng món nào tôi bớt cho cậu chút.”
Tôi đi tới, tiện tay lật qua lật lại.
Đầu tiên cầm lên một đồng tiền đồng, dòng chữ nổi hiện ra “tiền thông thường đời Thanh, giá trị 5 tệ”, rồi lại đặt xuống.
Lại cầm bình hít thuốc lá lên, “sản phẩm thô đời Dân Quốc, giá trị 80 tệ”, rồi đặt xuống.
Sau đó, tôi cầm chiếc gương đồng ấy lên.
Vừa vào tay đã thấy nặng trịch, mặt sau đầy rêu đồng, nhưng hoa văn vẫn mơ hồ nhận ra được, là một con linh thú quay đầu nhìn lại, xung quanh quấn lấy những dây nho.
“Cái này bao nhiêu?”
Ông chủ liếc qua một cái.
“Cái đó à, đồ bằng đồng thì không đáng mấy đồng. Lại còn rỉ thành như thế rồi. Một trăm rưỡi cho cậu.”
Một trăm rưỡi.
Mua một chiếc gương đồng đời Đường trị giá hai mươi tám vạn.
Tôi gật đầu.
“Được.”
Rút điện thoại ra quét mã thanh toán.