Giống như rốt cuộc cũng tìm thấy một người, thấu rõ thảm cảnh tồi tệ nhất của bạn, và cũng thấu rõ bạn làm thế nào để gượng dậy giành lại vị thế của mình.

Anh ta không vội vã, không thúc ép, cũng chẳng vin vào cớ “vì tốt cho em” để thay bạn đưa ra quyết định.

Anh ta chỉ lặng lẽ đồng hành.

Kiên nhẫn chờ bạn tự mình bước ra khỏi vũng lầy.

Tôi rũ mắt, khẽ gọi:

“Tự Bạch.”

“Hửm?”

“Mấy năm nay, cảm ơn anh nhiều lắm.”

Tiếng gió rít khẽ.

Anh im lặng hai giây, rồi trầm giọng bảo:

“Dạo này em cảm ơn tôi hơi bị nhiều đấy.”

“Vậy sau này tôi bớt nói lại nhé?”

“Được.” Anh đăm đăm nhìn khung cảnh đêm đằng xa, giọng điệu vẫn điềm tĩnh lạ thường, “Sau này lấy cái khác đền bù là được.”

Câu nói này vừa tuôn ra, không khí đột nhiên chững lại.

Tôi ngẩn người, vành tai gần như đỏ bừng ngay lập tức.

“…Anh nói nghe sặc mùi mờ ám đấy.”

“Thế à?” Anh quay đầu nhìn tôi, khóe mắt ánh lên một nụ cười cực kỳ nhạt nhòa, “Là tự em nghĩ xiên xẹo thì có.”

Tôi: “…”

Thôi.

Gói ghém luôn chút cảm động vừa chớm nở cất đi.

Cái tên này quả nhiên không thích hợp với sự tĩnh lặng quá ba phút.

Nhưng ác nỗi, bị anh ta khuấy đảo một phen, thứ không khí mập mờ, gượng gạo ban nãy lại bốc hơi sạch, hóa thành một sự tự nhiên thoải mái đến lạ kỳ.

Tôi bất giác cũng phì cười.

“Chu tổng, anh giỏi phá đám bầu không khí thật đấy.”

“Còn tùy đối tượng nữa.” Anh giơ tay xem giờ, “Đi thôi, đứng đây lát nữa khéo mai giọng em lại khản đặc mất.”

Trên đường về, tôi ngả lưng tựa ghế, tự dưng thấy cơn buồn ngủ kéo đến.

Quần quật cả ngày trời, đầu óc căng như dây đàn, giờ mới được thả lỏng, cơn mệt mỏi ập tới dồn dập.

Trong xe vắng lặng, máy sưởi mở vừa độ.

Tôi nhắm mắt, vốn dĩ chỉ định chợp mắt một lát, ngờ đâu lại thiếp đi thật.

Lúc mở mắt ra, xe đã dừng dưới sảnh chung cư.

Tôi bừng tỉnh, nhận ra trên người đắp thêm một chiếc áo khoác từ lúc nào không hay.

Màu xám sẫm, phảng phất chút hương gỗ dìu dịu.

Tôi ngẩn ngơ, quay đầu nhìn sang.

Chu Tự Bạch đang dán mắt vào điện thoại, ánh sáng lạnh hắt lên nửa khuôn mặt anh, toát lên vẻ tĩnh lặng và góc cạnh sắc sảo. Thấy tôi tỉnh, anh mới ngước lên.

“Tới nơi rồi.”

Tôi cúi đầu kéo vạt áo khoác lại, giọng vẫn còn chút ngái ngủ:

“Tôi ngủ bao lâu rồi?”

“Hai mươi phút.”

“Sao anh không gọi tôi?”

“Thấy em ngủ say quá.” Anh nói tỉnh bơ, “Nên để em ngủ thêm chút nữa.”

Tôi nhìn anh, tự dưng chẳng biết nói gì cho phải.

Vì quá tự nhiên.

Tự nhiên đến mức sự chăm chút và săn sóc này không giống như cố ý phô diễn, mà là bản tính vốn dĩ của anh ta.

“Áo…” Tôi cúi nhìn chiếc áo khoác trên người.

“Cứ khoác tạm đi, bên ngoài lạnh lắm.”

“Thế còn anh?”

“Tôi đâu phải em.” Giọng anh nhạt thếch, “Chẳng mong manh đến thế.”

Tôi không bắt lời, chỉ cúi gầm mặt kéo chặt vạt áo khoác lên vai.

Trái tim lại như bị vật gì đó khẽ huých một cái.

Rất khẽ khàng.

Nhưng không thể nào chối bỏ.

Còn ở một góc khác, trong tòa cao ốc Cố thị, đêm đã buông xuống rất sâu.

Phòng làm việc của Cố Cảnh Thâm vẫn rực sáng.

Trên bàn ngổn ngang nào là giấy tờ thu thập được, bản nháp dự án cũ, hồ sơ hợp tác và đủ loại giấy ghi chú riêng tư, cạnh đó là một chiếc hộp đang mở nắp.

Bên trong hộp là một chiếc cốc sứ vẽ hình con cáo đã cũ mèm.

Là trợ lý nghe phong thanh từ cô lao công ở khu chung cư cũ của cô hôm nay—— đây là chiếc cốc cô cưng nhất thời đại học, sau đợt chuyển nhà bị mẻ một miếng, tự tay cô dán lại, nâng như nâng trứng hứng như hứng hoa, chẳng nỡ vứt đi.

Trợ lý vốn chỉ kể lướt qua, kể rằng cô lao công cứ xuýt xoa khen cô sống trọng tình trọng nghĩa, Cố Cảnh Thâm nghe xong, bỗng chết sững hồi lâu.

Trọng tình.

Cô nâng niu từng kỷ vật, xót xa cho một chiếc cốc nứt mẻ chẳng nỡ quăng đi.