Đúng lúc ấy, rìa ngoài của đám đông chợt xôn xao, như thể có người muốn chen vào nhưng bị cản lại.
“Niệm Niệm! Lâm Niệm!”
Một giọng nói khàn đục, khô khốc, mang theo vẻ gấp gáp và bối rối xuyên qua tiếng ồn ào.
Đám đông theo bản năng tách ra một lối nhỏ.
Lại là cha tôi. Ông gầy hơn trong trí nhớ, mặc một chiếc áo khoác cũ kỹ không hợp mùa, cổ áo lệch, tóc tai rối bù, sắc mặt vàng xám không khỏe mạnh.
“Niệm Niệm,”
Ông nâng giọng, cố tỏ ra thân thiết một cách gượng gạo.
“Nghe nói con đón ông bà lên thành phố? Chuyện tốt, chuyện tốt thật…”
Cả sân lặng đi một nhịp, mọi ánh mắt đều mang theo nghi ngờ và dè chừng đổ dồn về phía ông ta.
Tôi không trả lời, chỉ bình tĩnh nhìn ông, toàn thân vô thức căng lên.
Có lẽ bị sự im lặng và những ánh mắt ấy làm cho mất tự nhiên, ông lùi lại nửa bước, hạ giọng, giọng nói đầy vẻ cầu khẩn:
“Niệm Niệm, ba… ba có chuyện muốn nói riêng với con, chỉ vài câu thôi, được không? Không làm lỡ việc của con đâu…”
Nói chuyện riêng? Trong lòng tôi lập tức cảnh giác.
Nhìn đôi mắt chớp lia lịa, ngón tay run rẩy, và những lần xuất hiện bất thường trước đây cùng việc ông ta cuống cuồng đòi tiền, tôi đoán ông chắc chắn lại dính vào rắc rối gì đó.
Giữa ánh mắt đầy hy vọng và căng thẳng ấy, tôi dứt khoát từ chối:
“Nếu có chuyện, nói luôn tại đây. Hoặc tôi có thể giúp tìm người có thể nghe ông nói.”
Có lẽ ông không ngờ tôi lại phản ứng như vậy, lập tức trở nên kích động:
“Mày… mày là con tao! Tao chỉ muốn nói chuyện trong nhà chút thôi, sao lại…”
“Chuyện trong nhà, ông bà và bà ngoại đều có mặt, không có gì không thể nghe.”
Tôi ngắt lời, đồng thời gọi cảnh sát.
“Chào anh, tôi muốn báo án. Địa điểm là thôn Liễu Thụ, thị trấn Thanh Nguyên, ngã ba đầu làng phía đông. Có một người hành vi bất thường, tinh thần mơ hồ, có khả năng gây nguy hiểm, cần sự hỗ trợ của cảnh sát.”
“Mày… mày báo công an?! Mày dám báo công an bắt cha mày?!”
Giống như mèo bị giẫm đuôi, ông ta hét lên the thé.
Ông quay người định chạy, nhưng mấy chú bác họ hàng đứng gần đó đã kịp phản ứng, lạnh mặt đứng chặn đường.
Tiếng còi hú vang lên, từ xa đến gần, rồi xe cảnh sát đến nơi rất nhanh.
Cảnh sát hỏi sơ bộ rồi lập tức nhận ra tình trạng bất thường của cha tôi.
Sau khi kiểm tra ban đầu, họ xác nhận ông ta mới dùng ma túy, đang trong trạng thái tinh thần dao động giữa mê loạn và hưng phấn.
Lúc bị đưa đi, ông vẫn còn lầm bầm chửi rủa, van xin.
Nhưng mọi chuyện chưa dừng ở đó.
Từ manh mối ông ta cung cấp, cảnh sát điều tra sâu hơn và bất ngờ triệt phá một mạng lưới nhỏ buôn bán và sử dụng ma túy hoạt động ẩn mình trong khu vực lân cận.
Người phụ nữ đã cuỗm tiền rồi quay lại kéo cha tôi xuống đáy sâu, cùng đồng bọn của ả, lần lượt bị bắt.
Vì cung cấp manh mối hữu ích, cảnh sát sau đó còn gửi tặng một lá cờ biểu dương.
Tôi không nhận tiền thưởng, chỉ nhờ họ dùng vào việc tuyên truyền phòng chống ma túy.
Lá cờ kia, tôi cũng cất đi, chưa bao giờ treo ra.
Cuộc sống ở căn hộ mới cuối cùng cũng thoát khỏi bóng tối của quá khứ, trở nên yên bình và vững chãi.
Những ngày nắng đẹp, ông thích ra ban công chăm sóc mấy chậu hoa tôi mua.
Bà nội và bà ngoại thì cùng nhau thử nấu món mới trong bếp, hoặc rủ nhau ra quảng trường khu dân cư phơi nắng, tán gẫu với các bà bạn mới quen.
Ba phòng ngủ đều đón nắng, ban đêm ai nấy ngủ ngon, ban ngày tụ họp ở phòng khách xem TV, trò chuyện.
Không gian rộng rãi, tiếng cười dường như cũng giòn giã hơn.
Họ thỉnh thoảng vẫn nhắc đến quê cũ, kể chuyện người này người kia trong làng, nhưng giọng điệu đã mang nhiều ấm áp hơn là tiếc nuối.
Cây xanh trên bậu cửa sổ đã nhú chồi non, nhẹ nhàng vươn mình trong ánh nắng trưa.
Tôi đứng trong phòng khách, nhìn bóng ông chăm cây trên ban công, lắng nghe giọng nói khe khẽ của bà nội và bà ngoại trong bếp cùng tiếng leng keng lẫn vào nhau của nồi niêu xoong chảo.
Gió từ cửa sổ mở thổi vào, lướt qua má, thật nhẹ, thật ấm, mang theo hương của nắng và mùi của những tán lá xanh.
Phiên ngoại – Góc nhìn của Tổng Giám đốc Lý
Lần đầu tiên tôi gặp Lâm Niệm là trong văn phòng của thầy Trần.
Cô bé cầm đơn xin nghỉ học mỏng tang, các đốt ngón tay siết chặt đến trắng bệch, nhưng lưng vẫn giữ thẳng tắp, như một nhành lau đứng giữa giông bão cũng không chịu khuất phục.
Đôi mắt cô bé sưng đỏ, nhưng ánh nhìn lại có một sự tỉnh táo đến gần như liều lĩnh.
Khoảnh khắc ấy, tôi như nhìn thấy chính mình của nhiều năm về trước.
Tuổi thơ của tôi ngập trong mùi khói bếp và những tiếng mắng nhiếc “đồ con gái vô dụng”.
Mẹ tôi sinh liền ba con gái, tôi là đứa con giữa.
Cả nhà như bị một màn sương u ám vô hình bao phủ.
Cha tôi lúc nào cũng ngồi thu lu ở ngưỡng cửa rít thuốc, còn tiếng thở dài của bà nội thì có thể xuyên qua cả tường đất.
Cháo trong bát, phần của em trai đặc quánh có thể cắm đứng đũa, còn ba chị em tôi thì loãng đến soi được cả bóng người.
Năm tôi bảy tuổi, vào mùa thu, trường làng khai giảng.
Những cậu bé cùng trang lứa đeo cặp sách mới đi ghi danh, tôi thì bám vào khung cửa, trông ngóng đến rớm nước mắt.
“Con gái học hành làm gì? Biết mấy chữ, biết tính toán, sau này lấy chồng không bị lừa là được rồi.”
Bà nội vừa khâu đế giày vừa lẩm bẩm, không buồn ngẩng đầu.
Cha tôi cũng chỉ lặng lẽ nói:
“Nhà mình làm gì còn tiền dư? Năm sau thằng bé cũng phải đi học rồi.”
Tôi cắn môi, không khóc, chạy ra bờ sông sau làng ngồi cả buổi chiều.
Dòng nước chảy xiết cuốn trôi những chiếc lá khô, cũng như muốn cuốn luôn chút hy vọng mờ nhạt cuối cùng trong tôi.
Ba ngày sau, một người phụ nữ lạ mặc đồ cán bộ, đeo kính, tới nhà tôi.
Chị ấy là cán bộ mới của Hội Phụ nữ huyện, họ Phương.