Ta vén rèm xe, quay đầu nhìn lại một lần.
Khi thấy cánh cửa thành từng cao xa đến mức không thể với tới ấy, trong màn sương sớm, dần dần nhỏ đi từng chút một, cuối cùng hóa thành một bóng mờ nhạt, tan vào cuối chân trời xám trắng.
Mẫu thân tựa vào thành xe, nhắm mắt lại.
Ánh nắng len qua khe rèm xe, rơi lên gương mặt bà, rơi lên mấy vết sẹo nhàn nhạt ấy — những vết sẹo đã phai thành màu hồng nhạt, nếu không nhìn kỹ, chỉ như dấu tích bình thường.
Bà không mở mắt.
Nhưng tay bà vươn tới, nắm lấy tay ta.
Đi một đường về nam.
Càng đi trời càng ấm, càng đi tuyết càng ít. Khi qua sông Hoài, hai bên bờ, cành liễu đã nhú lên sắc xanh non. Lại qua mấy bến đò, ngay cả gió cũng trở nên mềm mại, thổi lên mặt mang theo hơi nước.
Lời mẫu thân dần dần nhiều hơn.
Bà chỉ về ngọn núi ở phía xa, nói đó là nơi hồi nhỏ bà từng cùng ngoại tổ phụ đi qua.
Khi nói những lời ấy, trên mặt bà mang theo ý cười.
Chúng ta dừng lại ở một nơi gọi là trấn Thanh Liễu.
Trấn rất nhỏ, chỉ có một con phố, cuối phố là một con sông, trên sông bắc một cây cầu đá.
Cây liễu ở đầu cầu đang đâm chồi non, xanh mướt một màu, gió vừa thổi qua liền bay tán loạn khắp nơi.
Mẫu thân đứng ở đầu cầu, nhìn rất lâu.
“Ở đây đi.” Bà nói.
Chúng ta thuê một gian mặt bằng ở đầu phía đông của trấn.
Cửa tiệm không lớn, phía trước là tiền đường, phía sau là sân, trong sân có một cây hòe già, lúc hoa hòe nở, hương thơm có thể bay khắp nửa con phố.
Mẫu thân nói, mở một quán chè ngọt đi.
“Uyển Nhi,” bà quay đầu lại, mỉm cười với ta, “con thấy có được không?”
Ta nói được.
Ngày tháng cứ thế từng ngày trôi qua.
Mỗi sáng sớm, mẫu thân đều thức dậy nấu chè ngọt. Đậu đỏ, đậu xanh, hạnh nhân, bột củ sen, hoa quế, hạt sen……
Từng thứ từng thứ được ngâm, từng thứ từng thứ được nấu, nấu đến mức cả sân viện đều ngập trong vị ngọt.
Ta giúp bà bày bát, lau bàn, quét đất.
Bà sẽ đặt một thứ lên quầy hàng —
một xâu hồ lô đường.
Cắm trong một chiếc bình sành thô, đỏ tươi rực rỡ, lấp lánh sáng, hướng ra ngoài phố, để ai đi ngang qua cũng có thể nhìn thấy.
Gió từ cửa thổi vào, làm nó khẽ lay động.
Đây là lần đầu tiên ta ghép trọn vẹn được câu chuyện trước kia của mẫu thân ta.
Đích nữ của nhà Thẩm Hoài Ngọc, chức lang trung Hình bộ, năm mười lăm tuổi dự thơ hội, chỉ một bài “Vịnh Tuyết” đã khiến cả sảnh đường kinh ngạc.
Người ta đều nói, nếu cô nương ấy là thân nam nhi, e rằng đã đỗ trạng nguyên.
Nàng sinh ra cũng đẹp, giữa mày mắt mang theo một khí chất thư quyển, cười lên tựa làn nước xuân tháng ba.
Khi ấy, khắp kinh thành, công tử nhà quyền quý, không ai là không đem lòng yêu mến nàng.
Nhưng cố tình, nàng lại bị vị ấy để mắt tới.
Bắc vương nước Xương khi đó vẫn chưa có quyền thế ngập trời như bây giờ, nhưng cũng đã là nhân vật một người ở trên vạn người ở dưới.
Người hắn muốn, khi nào lại không có được?
Thẩm đại nhân là một vị thanh quan, cũng là kẻ có cứng khí.
Trong tay ông ta có một vụ án, tra tới tra lui, lại tra đến môn hạ của Bắc vương.
Ông không chịu buông tay, một đạo tấu chương dâng lên, đàn hặc tội tham ô.
Ba ngày sau, chính ông bị tống vào đại lao.
Nửa tháng sau, chết ở trong đó — nghe nói là sợ tội tự vẫn.
Ông chết rồi, Thẩm nương tử liền thành bèo không rễ.
Tạ Ngộ đón nàng vào vương phủ, nói là “chăm sóc con gái cố nhân”.
Nữ tài tử từng vang danh khắp kinh thành ấy, rất nhanh đã héo tàn.
Nàng từng mấy lần tìm chết trong vương phủ.
Có một lần, suýt nữa thật sự chết, may được một tử sĩ cứu xuống.
Tử sĩ đó là người Tạ Ngộ phái đi canh giữ nàng, tên là Lý Chí.
“Cha của ngươi ấy,” lúc nàng nói những lời này, trong mắt có ánh sáng,