Cô dịch sang bên cạnh, nhường ra một chỗ trên sofa, “Lại đây ngồi.”

Tôi khép cửa lại, chậm rãi bước tới, ngồi xuống bên cạnh cô.

Đến gần rồi, tôi mới nhìn rõ những nếp nhăn nhỏ li ti trên mặt cô, những rãnh sâu nơi khóe mắt, còn cả sự bình tĩnh chết lặng như mặt nước đọng trong mắt cô.

Đó là ánh mắt chỉ người mắc trầm cảm nặng mới có.

Tôi từng đọc được trên sách, nói rằng điều đáng sợ nhất của trầm cảm không phải là đau buồn, mà là không cảm nhận được gì nữa.

Niềm vui không cảm nhận được, nỗi buồn không cảm nhận được, yêu cũng không cảm nhận được, hận cũng không cảm nhận được. Chỉ còn lại một khoảng trống tê dại.

Bây giờ cô chính là như vậy.

“Tôi đến để nói cho cô vài chuyện, tiện thể khuyên cô buông bỏ triệt để.”

Cô kể cho tôi nghe tất cả những chuyện của mười năm sau,

Tôi lặng lẽ nghe, như đang nghe câu chuyện của một người xa lạ.

Cô nói trong mười năm đó, cô đã làm vô số lần trị liệu tâm lý, uống vô số loại thuốc, sốc điện, thôi miên, gây hôn mê bằng thuốc, cái gì cũng đã thử qua.

Vô ích.

Cô nói mình từng ba lần tự sát, hai lần được cứu về, một lần là tự mình từ bỏ.

“Lần đó tôi đứng trên sân thượng, nhìn xuống dưới, nghĩ bụng nhảy xuống là được giải thoát rồi.”

Giọng cô bình thản, như đang nói bữa tối hôm nay ăn gì, “Nhưng tôi không nhảy. Không phải vì sợ, mà là vì lười động.”

Tôi nghiêng đầu nhìn cô.

Cô nhận ra ánh mắt của tôi, cũng quay đầu lại, khẽ nhếch môi, “Cô biết không, trầm cảm đến cuối cùng, ngay cả sức chết đi cũng không còn.”

Tôi muốn nói gì đó, nhưng phát hiện cổ họng như bị nghẹn lại, không phát ra nổi âm thanh nào.

“Tôi đến là muốn nói với cô một chuyện.”

Cô đưa tay, lấy từ túi áo bệnh nhân ra một thứ, đưa cho tôi.

Là một tấm ảnh.

Trong ảnh là hai người, đứng giữa một vùng tuyết trắng, phía sau là núi tuyết mênh mông, ánh mặt trời xuyên qua khe mây, rọi lên gương mặt họ.

Tôi liếc mắt một cái đã nhận ra, đó là tôi lúc trẻ và Tống Ngọc.

Đó là lúc đi trượt tuyết năm ngoái chụp, trước khi xảy ra trận lở tuyết.

Tôi trong ảnh cười đến mức mắt cũng híp lại, Tống Ngọc ôm tôi từ phía sau, cằm tựa lên vai tôi, cũng đang cười.

“Tấm ảnh này tôi vẫn luôn giữ. Không phải vì vẫn còn yêu anh ta, mà là vì muốn nhớ rằng, tôi cũng từng có lúc thật sự vui vẻ.”

Tôi nhìn tấm ảnh, viền mắt bỗng có chút cay.

“Tôi biết bây giờ cô rất khó chịu, cảm thấy mấy tháng qua chịu uất ức như thế là đủ nhiều rồi. Nhưng tôi muốn nói với cô, so với mười năm phía sau, mấy tháng này thật sự không đáng là gì.”

Cô cất ảnh lại, nhét vào túi một lần nữa.

“Tôi đến là muốn nói với cô, đừng quay đầu. Mặc kệ anh ta cầu xin cô thế nào, nhận lỗi thế nào, thề thốt sẽ sửa đổi ra sao, cũng đừng quay đầu.”

“Vì tôi là cô, tôi biết cô sẽ mềm lòng, cô sẽ cảm thấy lần này anh ta thật sự đã sửa đổi, cô sẽ muốn cho anh ta thêm một cơ hội. Rồi cô sẽ quay lại bên anh ta, rồi tất cả sẽ lặp lại như cũ.”

Giọng cô rất nhẹ, nhưng từng chữ lại như cái đinh, ghim thẳng vào tim tôi.

Cuối cùng tôi cũng tìm lại được giọng nói của mình, “Vậy bây giờ cô vẫn ổn chứ?”

Cô khựng lại một chút, rồi bật cười.

Trong nụ cười đó, lần đầu tiên tôi nhìn thấy một thứ gì đó khác lạ.

“Tôi còn sống, còn sống thì mới có cơ hội nhìn thấy kết cục hiện tại của anh ta.”

Mưa ngoài cửa sổ chẳng biết đã tạnh từ khi nào, ánh chiều từ sau tầng mây xuyên ra, nhuộm cả phòng khách thành một màu cam đỏ.

Cô nhìn vệt sáng đó, nét mặt cũng dịu đi đôi chút.

“Tôi nên đi rồi.”

Cô đứng dậy, ống quần trống rỗng kia khẽ đung đưa, cô vịn lấy sofa để giữ thăng bằng.

Tôi cũng đứng lên, muốn nói gì đó, nhưng lại không biết nên nói gì.

Cô đi đến cửa, bỗng dừng bước, quay đầu lại.

“À đúng rồi, suýt nữa thì quên nói với cô một chuyện.”

“Sau này tôi gặp được một người.”