“Nương, khi nào người trở về nhà?”
Ta nhìn hắn.
“Thế tử, nơi đó không phải nhà của ta.”
“Chuyện nghiên mực, là Lục Tư Vãn hãm hại nàng.” Cố Cảnh Xuyên đột nhiên nói.
Ta không đáp.
“Thu Chi cũng chết oan, ta đã hậu táng nàng, dựng lại mộ bia.”
Ta vẫn không đáp.
Hắn nhìn ta, chợt trầm mặc, có lẽ là không còn lời nào để nói.
“Đêm đã sâu, Thanh Châu không giống kinh thành, nhập dạ đường sá khó đi. Hai vị nên sớm tìm khách điếm nghỉ ngơi.”
Nghe ta nói vậy, An nhi không chịu rời, ngẩng đầu nhìn phụ thân.
Cố Cảnh Xuyên hạ mi mắt.
Hắn nhớ đến nhiều năm trước, cũng một buổi hoàng hôn như thế, nàng quỳ trước mặt hắn, cầu hắn cho đứa trẻ một danh phận.
Hắn nói nàng không xứng.
Nay nghĩ lại, kẻ không xứng chính là hắn.
Hắn xoay người, dắt tay An nhi rời đi.
Ngày hôm sau Cố Cảnh Xuyên lại đến, ta bảo Chu Tự Hành ra gặp hắn.
Hắn là Hầu gia của thiên gia, ta dẫu có hận cũng không thể làm điều gì.
Ta chỉ là không muốn gặp lại hắn nữa, nhưng có vài lời nên nói cho rõ.
Cố Cảnh Xuyên nhận ra Chu Tự Hành.
Năm ấy ta nhập Hầu phủ, Chu Tự Hành từng đến tìm, nhưng bị người đánh đuổi ra ngoài.
Nay hắn thay ta đi gặp Cố Cảnh Xuyên, cũng coi như thích hợp.
“Hầu gia là đến mua sách, hay đến tìm người?”
Cố Cảnh Xuyên không đáp.
Chu Tự Hành chờ một khắc, nhàn nhạt nói:
“Chiêu nương chưa từng kể với ta chuyện ở kinh thành.”
“Nhưng khi nàng vừa đến Thanh Châu, gầy đến lợi hại, trên lưng còn có thương tích. Tự mình bôi thuốc không với tới, đau đến mồ hôi đầm đìa.”
“Tay nàng ôm một chiếc hộp gỗ. Ta hỏi là của ai, nàng cũng không chịu nói. Chỉ nhìn ta mà khóc, hỏi ta có chê nàng hay không.”
“Nàng trước kia…”
Hắn mở lời, rồi dừng lại.
Trước kia thế nào?
Trước kia ở Hầu phủ, nàng chưa từng dám ra ngoài lúc hoàng hôn, vì hắn từng nói sau khi mặt trời lặn, nữ quyến hậu trạch không được tùy ý đi lại.
Trước kia nàng thích ăn ngọt, nhưng hắn không thích vị ngọt, trong phủ vì thế hiếm khi chuẩn bị điểm tâm. Nàng chưa từng nhắc đến, hắn liền cho rằng nàng không thích.
Trước kia nàng sợ lạnh, mỗi khi đông về đầu gối đều đau, nhưng chưa từng nói ra, chỉ khi đêm khuya tĩnh lặng mới tự mình xoa bóp.
Hắn chưa từng biết.
Là hắn không muốn biết.
Chu Tự Hành chờ hắn hỏi hết, chờ hồi lâu, cũng chỉ đợi được nửa câu ấy.
“Hầu gia, nàng trước kia thế nào, không can hệ đến ta.”
“Ta chỉ biết nàng của hiện tại.”
“Thư phường mỗi tháng mồng một và mười lăm nghỉ buôn, nàng sẽ đến Từ An Đường phía tây thành giúp chép kinh. Cổ tay trái nàng có vết thương cũ, viết lâu sẽ đau, nên ta thường thay nàng xoa bóp.”
“Nàng sợ ẩm, mùa mưa đầu gối đau đến khó ngủ. Ta nhờ người từ Vân Châu mang về một bộ thuốc chườm, năm nay phát tác đã nhẹ hơn.”
“Thật ra nàng không thích uống trà, chỉ là trước kia quen chiều theo sở thích của người khác. Nàng thích uống ô mai ẩm, vị hơi chua, ít đá, thêm nửa thìa mật.”
Cố Cảnh Xuyên lặng nghe.
Những điều hắn chưa từng biết ấy, Chu Tự Hành từng việc từng việc kể ra, như đang nói về một người hết sức tầm thường.
Nhưng đó không phải tầm thường.
Đó là có người đã đặt tâm tư vào.
“Hầu gia,” Chu Tự Hành nhìn hắn,
“Ngài hỏi những điều này, là muốn biết nàng sống có tốt không, hay muốn biết nàng còn có thể quay đầu hay không?”
Cố Cảnh Xuyên không đáp.
Khoảng thời gian này, hắn đã sớm biết, là không thể nữa rồi.
Năm hết tết đến, Cố Cảnh Xuyên khởi hành hồi kinh.
Hầu phủ không thể lâu ngày vô chủ, tế tự cuối năm, lễ tiết qua lại, sổ sách các trang trại các nơi, đều cần hắn đích thân xử trí.
An nhi không theo về, hắn nhất quyết lưu lại, dẫu ta không chịu gặp hắn thêm một lần.
Hắn nhập học tịch tại Thanh Châu, Cố Cảnh Xuyên thuê cho hắn một tiểu viện thanh tĩnh, phái hai lão bộc chững chạc trông nom.
Cố Cảnh Xuyên xoay mình lên ngựa.
Khi ra khỏi đầu ngõ, hắn ghìm cương, ngoái đầu nhìn lại.
Sương sớm vừa tan, trên cửa hiệu thư phường, dưới mái hiên vẫn treo chiếc đèn lồng sáng nhàn nhạt.
Hắn nhìn một hồi.
Rồi thúc ngựa hướng bắc mà đi.
Cố Cảnh Xuyên đúng hẹn lại đến Thanh Châu, khi An nhi đã qua kỳ thi Đồng sinh.
Hắn vẫn thuê tiểu trạch ấy, vẫn mỗi ngày đến đầu ngõ đứng một lát.
Hắn ở Thanh Châu nửa tháng.
Ngày rời đi, lại đến đầu ngõ đứng thêm một lần.
Cửa thư phường đóng kín, nói rằng Lục nương tử cùng Chu tiên sinh đồng hành đến Vân Châu tầm thư, ngày về chưa định.
Cố Cảnh Xuyên đứng dưới gốc hòe thật lâu.
Bóng nắng xế tà, đầu ngõ dần nhuộm sắc hoàng hôn.
Hắn đặt một phong thư lên bệ cửa sổ, dùng một nút bình an ép lại.
Trong thư không có chữ.
Chỉ có một cây trâm bạch ngọc lan.
Cánh từng gãy kia, hắn đã nhờ ngọc tượng giỏi nhất kinh thành, dùng sợi bạc khảm lại.
Hắn đặt trâm xuống, xoay người rời khỏi ngõ.
Chuông gió dưới hiên khẽ ngân.
Khi ta từ Vân Châu trở về, đã là cuối xuân.
Vừa đẩy cửa, liền thấy trên bệ cửa sổ đặt một nút bình an.
Là kiểu ta từng bện ở Hầu phủ, nhưng không phải tay nghề của ta.
Dưới nút bình an là một cây trâm ngọc.
Kiểu bạch ngọc lan, cánh từng gãy đã được khảm lại bằng sợi bạc.
Ta cầm cây trâm lên, đưa ra ánh sáng nhìn rất lâu.
Chu Tự Hành đứng sau lưng hỏi:
“Có muốn đi gặp hắn không?”
Ta lắc đầu, thu trâm vào tay áo.
Nút bình an kia vẫn đặt trên bệ cửa.
Ta không mang vào phòng.
Cũng không gỡ xuống.
Chỉ để nó yên ở đó.
Khi gió thổi qua, đôi cá song ngư khẽ lay động.
Lại thêm mấy mùa xuân nữa.
An nhi đến hai lần.
Lần đầu là đem cuốn “Luận Ngữ” do chính hắn chép, đóng thành tập, xin ta chỉ giáo.
Lần thứ hai là đến cáo biệt.
Hắn đã qua phủ thí, mùa thu sẽ vào kinh ứng thí viện thí.
“Nương, con sẽ thi đỗ.”
Ta nhìn hắn.
Đứa trẻ đã cao đến ngang mi ta, thân hình vươn dài như trúc non, đôi mày ánh mắt cũng dần mất đi nét rụt rè thuở nhỏ.
“Thế tử tiền đồ như gấm.” Ta nghe chính mình mỉm cười nói.
An nhi khẽ mở miệng.
Hắn muốn nói hắn không phải thế tử, hắn không cần tiền đồ như gấm.
Trên mặt thoáng qua một tia thất vọng, sau cùng cũng chỉ quy về bình lặng.
“Người bảo trọng.”
Mùa đông năm ấy, từ kinh thành truyền đến tin tức.
Thế tử Hầu phủ, Cố An, ứng viện thí đỗ lẫm sinh, nhập phủ học đọc sách.
Phong diệp ở Thanh Châu đỏ muộn, ta tựa bên cửa sổ, trên gối đắp tấm chăn mỏng.
Chu Tự Hành ở án tiền sửa sang sách vở, thỉnh thoảng ngẩng mắt nhìn ta một cái.
“Nhìn gì?”
Chu Tự Hành mỉm cười.
“Nhìn nàng.”
Ta ngoảnh mặt đi, vành tai khẽ ửng hồng.
Ngoài cửa sổ, lá phong xào xạc rơi, chuông gió dưới hiên khẽ ngân.
Trên cửa, nút bình an kia vẫn còn.
Sợi chỉ đã phai màu, đuôi cá sờn đi đôi chút, nhưng vẫn buộc chặt nơi đó.
Khi gió qua, khẽ lay một cái.
Rất nhẹ.