Bùi Quan Lễ cười nhạt: “Tri Ninh sợ đắng, các bài thuốc trong phủ đều đã được y quan gia giảm lại cả rồi.”
Nương ta nhìn chàng, lại nhìn ta, bỗng cúi đầu lén lau khóe mắt: “Tốt, tốt quá.”
Tối hôm đó, ta tiễn Bùi Quan Lễ về thư phòng. Vừa bước vào cửa, đã thấy trên bàn chàng bày la liệt một đống sổ sách.
Trên bìa cuốn sổ nằm trên cùng viết một dòng chữ:
【Bảng liệt kê chi tiết sản nghiệp cũ của Tống phu nhân được trả lại】
Bên cạnh là một cuốn sổ khác:
【Bản nháp quy định mới về quản lý thương nhân buôn gạo ở Giang Nam】
Ta lật xem vài trang, càng xem càng ngạc nhiên: “Chàng định chỉnh đốn lại quy định gạo cống Giang Nam sao?”
Bùi Quan Lễ gật đầu: “Danh sách gạo cống nhiều năm nay bị đám phú thương địa phương lũng đoạn, tệ nạn không nhỏ.”
“Chàng không sợ đắc tội với người ta à?”
“Đã đắc tội rồi.”
Ta bị chàng nói cho cạn lời.
Bùi Quan Lễ nhìn ta: “Nàng có bằng lòng giúp ta không?”
Chàng đẩy một cuốn sổ trống đến trước mặt ta: “Ta rành lễ pháp, nhưng không rành chi tiết làm ăn của thương điếm gạo. Nàng rành.”
Ta nhìn cuốn sổ, ngón tay từ từ siết chặt.
Trước kia ở Tống gia, phụ thân ta nói ta biết tính sổ sách cũng chẳng để làm gì. Đến kinh thành, người ta nói ta dính đầy mùi tiền hôi hám. Chỉ có Bùi Quan Lễ mới trao cây bút vào tay ta.
Chàng nói: “Mấy chỗ giá cũ này, ta xem không hiểu, nàng xem giúp ta đi.”
Ta nắm lấy cây bút, nhỏ giọng hỏi: “Chuyện này có hợp quy củ không?”
Bùi Quan Lễ nhìn ta, đáy mắt thấp thoáng một nét cười rất nhạt: “Phu nhân phò tá phu quân, vô cùng hợp quy củ.”
Ta cũng cười: “Vậy nếu ta viết tốt hơn chàng thì sao?”
Chàng ngập ngừng một lát, rồi nghiêm túc trả lời: “Vậy ta sẽ mài mực cho phu nhân.”
**13**
Viết được nửa cuốn sổ, tiểu đồng bên ngoài mang vào một tấm thiếp bái phỏng.
Bùi Quan Lễ liếc nhìn, giữa đôi lông mày khẽ chau lại, một nếp nhăn rất nhỏ.
“Ai vậy?”
“Hữu thị lang Lễ bộ, Hạ Sùng Minh.”
Đó là lần đầu tiên ta nghe thấy cái tên này. Lúc bấy giờ, ta chỉ nghĩ ông ta là đồng liêu ở Lễ bộ, đâu biết cái tên này sau này sẽ kéo theo một vụ án cũ liên quan đến gạo cống.
Ngày Hạ Sùng Minh đến Bùi phủ, ông ta mặc một bộ thường phục màu xanh lam hơi cũ. Hơn bốn mươi tuổi, nói năng rất chậm rãi. Vừa thấy ta, ông ta đã cười và chắp tay: “Đây hẳn là Bùi phu nhân. Nghe nói phu nhân rất am hiểu về ngành buôn gạo, bản quy định mới gần đây của Bùi đại nhân, đa phần là nhờ phu nhân giúp đỡ.”
Lời này thoạt nghe như khen ngợi. Nhưng ta nhận ra điều bất thường.
Nếu thực sự là đồng liêu khách sáo, sẽ không mở miệng liền lôi “quy định mới” và “phu nhân” gắn liền với nhau.
Bùi Quan Lễ hạ chén trà xuống, giọng điệu bình tĩnh: “Quy định mới còn chưa thành văn, nói gì đến nhờ vả ai.”
Hạ Sùng Minh không tắt nụ cười: “Bùi đại nhân thận trọng quá. Chỉ là trong triều, lời đồn đại thật đáng sợ. Danh sách gạo cống vốn dĩ đã nhạy cảm, nếu để người ngoài biết điều lệ của Lễ bộ xuất phát từ chốn nội trạch, e là sẽ có những lời đàm tiếu.”
Bàn tay bưng trà của ta khựng lại giữa không trung.
Bùi Quan Lễ liếc ông ta một cái: “Người hiểu gạo thì xem gạo, người hiểu sổ sách thì xem sổ sách, không vì người đó ở trong nội trạch mà sổ sách thiếu đi một đồng.”
Hạ Sùng Minh vẫn cười: “Nói thì nói vậy, nhưng thói đời chưa chắc đã biết lý lẽ.”
Nói xong, ánh mắt ông ta lướt nhẹ qua cuốn sổ sách trên bàn trước mặt ta. Ánh nhìn đó rất nhanh, nhưng ta lớn lên ở cửa hàng gạo, giỏi nhất là nhìn xem mắt người ta rơi vào trang sổ nào.
Hạ Sùng Minh đang nhìn vào bến Thanh Thạch.
Ta khép cuốn sổ lại, mỉm cười hỏi: “Hạ đại nhân cũng hiểu về buôn gạo sao?”
Ông ta khựng lại một nhịp: “Biết sơ sơ.”
“Vậy đại nhân hẳn phải biết, gạo cũ sợ nhất là có người lật đáy bao.”
Căn phòng chìm vào tĩnh lặng trong chốc lát. Hạ Sùng Minh nhìn ta, nụ cười cuối cùng cũng nhạt đi đôi chút: “Bùi phu nhân nói chuyện thẳng thắn như đang làm ăn vậy.”
Ta đáp lời: “Gạo hỏng mà không nói thẳng, người ăn vào sẽ sinh bệnh.”
Bùi Quan Lễ cúi đầu uống trà. Ta thấy khóe môi chàng khẽ nhúc nhích một chút.
**14**
Ta và Bùi Quan Lễ cùng nhau bận rộn suốt hai tháng trời. Chàng tra cứu lễ chế cựu lệ, ta đối chiếu sổ sách ngành gạo; chàng thảo tấu chương, ta chỉnh lý giá cả gạo các vùng. Những cuốn sổ cần ta xem qua, chàng đều cố tình chờ đến xế chiều mới mang tới.
Có một lần ta gục trên bàn ngủ quên mất, lúc tỉnh dậy thì trên người đang đắp áo ngoài của chàng, bên tay còn đặt nửa đĩa hạt dẻ đã bóc sẵn vỏ. Chàng đang ngồi viết chữ dưới ngọn đèn.
Ta gối đầu lên cánh tay, gọi khẽ: “Bùi Quan Lễ.”
Chàng ngước mắt lên: “Ừm?”
Ta đi tới, rút cây bút khỏi tay chàng: “Hôm nọ chàng bảo, là chàng xin ban hôn cưới ta, rốt cuộc vì sao thế?”
Bùi Quan Lễ trầm ngâm một lát, rồi từ ngăn cao nhất của kệ sách lấy xuống một chiếc hộp gỗ nhỏ.
Trong hộp là một chiếc khăn tay cũ kỹ, đã giặt đến ngả màu, ở góc có thêu một con ve sầu nhỏ xíu xiêu vẹo.
Ta nhận ra đó là khăn tay của ta, nhưng không nhớ đã đưa cho chàng từ bao giờ.