“Bởi vì những người dám lên tiếng năm đó, đều đã chết cả rồi.”
Cả công đường ồ lên kinh ngạc. Lão Chu ôm ghì tấm ván gỗ vào ngực.
“Thẩm lão gia mang hàm oan, những kẻ trên thuyền biết chuyện tráo kho, đứa thì rơi xuống sông chết đuối, đứa thì bạo bệnh qua đời, đứa lại bị bắt đi sung quân. Thảo dân bị gãy chân, phải giả điên giả dại mới giữ được cái mạng quèn này.”
Lão dâng tấm ván gỗ lên: “Đây là tấm ván đáy khoang của con thuyền chở gạo năm xưa.”
Nha dịch nhận lấy, trình lên bàn án. Mặt trong ván gỗ có khắc vài đường chỉ rất nông.
Ta tiến lại gần xem xét, hơi thở bỗng nhiên ngừng trệ. Đó không phải vết xước thông thường, mà là ngấn đánh dấu các tầng bao gạo. Khi bốc hàng lên thuyền, để đề phòng chủ thuyền tự ý đánh tráo, tiên sinh ghi sổ thường khắc vạch tải trọng lên vách khoang. Nếu gạo thiếu hụt khi cập bến, vạch ngấn sẽ phơi bày sự thật.
Lão Chu chỉ vào một vạch: “Gạo Thẩm gia ở Giang Châu bốc lên, cao đến đúng vạch này.”
Lão lại chỉ sang vạch khác: “Nhưng khi tàu từ bến Thanh Thạch rời đi, gạo chỉ còn ngấn đến vạch này.”
Mất trắng cả một tầng gạo.
Hạ Sùng Minh hừ lạnh: “Một tấm ván gỗ mục nát, cũng làm bằng chứng được sao?”
Lão Chu run rẩy rút từ trong tay áo ra nửa miếng thẻ gỗ. Trong chiếc hộp mà nương đưa cho ta, cũng có nửa miếng thẻ gãy. Ta giật mình lấy nó ra khỏi tay áo. Hai nửa thẻ gỗ ghép lại, vừa khít hiển thị ký hiệu con thuyền của Thẩm gia:
【Giang Châu Thẩm thị, Giáp Tam thuyền.】
Lão Chu nhìn thấy nửa tấm thẻ kia, đột nhiên nước mắt giàn giụa: “Thẩm cô nương vẫn còn giữ nó.”
Người lão gọi là Thẩm cô nương, chính là nương của ta. Lão Chu dập đầu thật mạnh về phía ta.
“Thảo dân mấy chục năm nay không dám đi tìm Tống phu nhân, chỉ dám đứng từ xa lén nhìn vào tiệm cháo. Khi Bùi phu nhân treo tấm biển gỗ, viết rằng ‘người sống quan trọng hơn sổ sách’, thảo dân mới nhận ra, trên đời vẫn còn người của Thẩm gia dám nói câu này.”
Ta lặng người. Hóa ra bát cháo nóng ngoài cửa tiệm năm nào, đã chờ đợi được một nhân chứng từ tận hai mươi năm trước.
Hạ Sùng Minh cười gằn: “Một vở kịch nhận người thân thật hay.”
Ông ta ngước nhìn Đại Lý Tự khanh: “Nhưng nhân chứng thì già nua, vật chứng thì rách nát. Nếu chỉ dựa vào ngần ấy thứ mà đòi lật lại bản án định tội hai mươi năm trước, thì kỷ cương phép nước của triều đình còn để ở đâu?”
Ta quay sang đáp trả: “Hạ đại nhân nói chí phải. Vậy nên ta vẫn còn bằng chứng thứ ba.”
**27**
Bằng chứng thứ ba không nằm trong tay ta, mà nằm trong tay Bùi Quan Lễ.
Chịu lệnh tránh hiềm nghi, chàng không được giữ vai trò chủ thẩm, không được thẩm vấn, thậm chí không được chủ động đệ trình chứng cứ. Vậy nên khi ta đưa mắt nhìn, chàng chỉ ngồi im lìm ở hàng ghế dự khán, tĩnh lặng như một pho tượng ngọc.
Hạ Sùng Minh nương theo ánh mắt ta, khóe môi khẽ nhếch lên một nụ cười giễu cợt: “Bùi đại nhân, ngài hiện đang mang lệnh tránh hiềm nghi, tốt nhất là đừng vì phu nhân mà phá lệ.”
Bùi Quan Lễ ngước mắt lên: “Hạ đại nhân hiểu lầm rồi.”
Chàng rút từ trong tay áo ra một phong thư đã niêm phong, đưa cho nha dịch bên cạnh: “Vật này thần đã giao cho Đại Lý Tự niêm phong từ ngày hôm qua, không phải chứng cứ thần mới dâng lên hôm nay.”
Sắc mặt Hạ Sùng Minh cuối cùng cũng biến dạng.
Đại Lý Tự khanh bóc phong thư. Bên trong là bản rập lại văn bản phê duyệt cũ của Lễ bộ.
Hai mươi năm trước, khi vụ án nghĩa thương của Giang Châu Thẩm thị kết thúc, Chuyển vận ty địa phương trình báo về việc nhập kho gạo mốc. Lễ bộ theo thông lệ phải duyệt lại danh sách cứu tế. Cuối dòng văn bản phê duyệt có một dòng chữ nhỏ:
【Mẫu gạo không sai sót, chuẩn y theo tiền lệ.】
Người ký tên là: Hạ Sùng Minh.
Nhưng điều mấu chốt không phải là cái tên, mà là bốn chữ đóng ngay bên cạnh một con dấu nhỏ:
【Thanh Thạch phúc nghiệm】 — kiểm tra lại tại Thanh Thạch.
Đại Lý Tự khanh nhìn một lúc, ngẩng đầu hỏi: “Thanh Thạch phúc nghiệm là ý gì?”
Bùi Quan Lễ đứng dậy hành lễ: “Bẩm đại nhân, theo quy định cũ của Lễ bộ, nếu mẫu gạo cứu tế hoặc cống nạp của địa phương có điểm đáng ngờ, có thể lập trạm kiểm tra lại dọc đường. Trạm kiểm tra lại trên tuyến đường từ Giang Châu đến kho Lăng Thủy cách đây hai mươi năm, chính là bến Thanh Thạch.”
Ta tiếp lời: “Nói cách khác, thuyền gạo của Thẩm gia khi đi qua bến Thanh Thạch, không phải do họ tự ý neo đậu, mà là tuân theo quy định phúc nghiệm cũ của Lễ bộ. Sau khi dừng lại kiểm tra, gạo mới biến thành gạo cũ, và người ký duyệt ‘kiểm tra không sai sót’, chính là Hạ đại nhân.”
Cả công đường chìm vào sự im lặng chết chóc. Hạ Sùng Minh nhìn chằm chằm vào bản rập. Một lát sau, ông ta bật cười gượng gạo: “Thủ đoạn của Bùi đại nhân thật cao minh.”
Bùi Quan Lễ sắc mặt không đổi: “Theo luật điều tra hồ sơ mà thôi.”
Hạ Sùng Minh giọng lạnh lẽo: “Ngươi vì muốn giải oan án cũ cho bên ngoại của phu nhân, mà dám lật tung kho hồ sơ Lễ bộ cách đây hai mươi năm, đây không phải là việc làm tư lợi sao?”
Bùi Quan Lễ chưa kịp lên tiếng, ta đã cất tiếng gọi: “Hạ đại nhân.”