“Nhưng tỷ lệ hoàn thành dự án của cậu là một trăm phần trăm.”
“…Đúng.”
“Mức độ hài lòng của khách hàng đứng đầu bộ phận.”
“Vâng.”
“KPI một trăm ba mươi tám phần trăm.”
“Đúng.”
Lại im lặng năm giây.
Tổng giám đốc Phương ở hàng ghế sau nói: “Này lão Trịnh, bộ phận của anh có một nhân viên vừa là vua đi muộn vừa đứng đầu KPI, vậy mà chuyện này anh cũng không biết à?”
Sắc mặt Trịnh Hạc Niên rất khó tả. Kiểu biểu cảm nằm giữa “đúng là tôi không biết thật” và “anh đừng có nói móc tôi ở đây”.
“Bình thường tôi chỉ xem danh sách cảnh báo vượt giới hạn đỏ.” Ông ấy nói.
“Vì vậy cậu ấy luôn nằm trong danh sách cảnh báo đỏ của anh.”
“Đúng.”
“Nhưng cũng luôn đứng đầu thành tích.”
“…Đúng.”
Tổng giám đốc Phương uống một ngụm Americano, không nói thêm.
Nhưng chân đang vắt chéo của ông ấy khẽ đung đưa, mang theo ý tứ “vở hay còn ở phía sau”.
Trịnh Hạc Niên quay sang tôi: “Mỗi ngày thời gian làm việc thực sự hiệu quả của cậu ở công ty khoảng bao lâu?”
“Tùy tình hình.” Tôi nói. “Lúc bận thì bốn, năm tiếng, lúc rảnh thì hai, ba tiếng.”
“Thời gian còn lại cậu làm gì?”
“Đi vệ sinh quá giờ.”
Tiếng cười của Triệu Khải phụt ra từ mũi.
Tống Vi trừng cậu ta một cái.
“Ý tôi là…” Tôi nói. “Bản thân công việc lập kế hoạch không phải cứ ngồi lì ở chỗ làm cho đủ thời gian là có thể cho ra sản phẩm. Tôi có thói quen tập trung làm xong, sau đó để đầu óc nghỉ ngơi một chút.”
“Nhưng vấn đề đi muộn của cậu vẫn tồn tại.” Tống Vi kéo chủ đề trở lại.
“Có tồn tại.” Tôi thừa nhận.
“Bất kể thành tích của cậu tốt đến đâu, quy định chấm công vẫn là giới hạn đỏ của công ty.”
“Tôi biết.”
“Vậy tại sao cậu không…”
“Không gì? Không ra khỏi nhà để bị ngỗng đuổi? Không bị lính cứu hỏa khiêng? Không bị cô lớn tuổi nhận nhầm là con trai?” Tôi nhìn cô ấy. “Chị Tống, tôi cũng đâu muốn.”
Môi Tống Vi mấp máy, nhưng không nói được gì.
Lúc này Trần Hạo — thực tập sinh suốt từ đầu chỉ hận không thể tàng hình — yếu ớt giơ tay.
“Có chuyện gì?” Trịnh Hạc Niên hỏi.
“Em… em muốn hỏi một chút.” Giọng Trần Hạo nhỏ như muỗi kêu. “Lý do thứ hai mươi ba của anh Chu rốt cuộc là gì? Chính là chuyện bị nhóm phù rể đuổi qua ba con phố ấy?”
Ánh mắt cả phòng tập trung lên người cậu ta.
Sau đó lại tập trung lên người tôi.
Trịnh Hạc Niên nhìn đồng hồ.
“Mười giờ mười lăm rồi.” Ông ấy nói.
Sau đó ông ấy đưa ra một quyết định.
“Buổi trưa không nghỉ nữa.” Ông ấy vặn chặt nắp bình giữ nhiệt. “Hôm nay tôi phải nghe hết cả bốn mươi bảy lý do.”
Ánh mắt ông ấy nhìn tôi đã thay đổi.
Không phải cấp trên nhìn cấp dưới.
Không phải người xét xử nhìn bị cáo.
Mà giống như —
Một người xem phim đến đoạn cao trào, đang chăm chú nhìn thanh tiến độ còn lại bao nhiêu.
—
【Chương 4】
“Lần thứ mười bảy, ngày 2 tháng 7.”
“Vừa rồi tôi bị chị ngắt lời.” Tôi nhìn Tống Vi.
Cô ấy làm động tác “cậu cứ tiếp tục”.
“Hôm đó tôi ra khỏi nhà bình thường, đi đến cửa ga tàu điện ngầm thì bị một nhóm quay phim chặn lại.”
“Nhóm quay phim gì?”
“Quay video ngắn. Ba người, một người vác máy quay, một người cầm micro, một người cầm bảng câu hỏi.”
“Phỏng vấn đường phố?”
“Đúng. Họ hỏi tôi có sẵn lòng phối hợp quay một đoạn không. Câu hỏi là ‘Anh cho rằng nỗi phiền muộn lớn nhất của người trẻ hiện đại là gì?’”
“Cậu thế mà cũng phối hợp?” Triệu Khải đầy vẻ khó tin. “Cậu không vội à?”
“Tôi nói không.” Tôi nói. “Tôi nói ba lần là không. Sau đó họ nói tham gia sẽ được tặng một ly trà sữa.”
“Cậu vì một ly trà sữa mà…”
“Triệu Khải, cậu có thể để tôi kể hết không?”
Cậu ta ngậm miệng.
“Tôi nhận trà sữa, trả lời một câu hỏi, nói khoảng ba mươi giây. Sau đó tôi quay người định đi, người quay phim đột nhiên hét lên: ‘Khoan đã anh bạn, sau lưng anh có một tổ ong.’”
“Cái gì?”
“Phía sau tấm chắn kim loại bên trên lối vào tàu điện ngầm có một tổ ong vò vẽ to bằng quả bóng rổ. Họ phát hiện lúc quay phỏng vấn ở đó nhưng vẫn không dám động vào. Khi trả lời câu hỏi, tôi luôn quay lưng về phía thứ đó, khoảng cách chưa đến hai mét.”
“Sau đó thì sao?”
“Sau đó tôi cúi đầu nhìn, thấy trên cốc trà sữa của mình đậu ba con ong vò vẽ.”
Trong phòng họp vang lên mấy tiếng hít lạnh.
“Nhóm quay phim lập tức bỏ chạy. Tôi cũng muốn chạy. Nhưng tôi vừa quay người thì một con ong vò vẽ đốt vào sau gáy.”
“Có đau không?” Trần Hạo hỏi.
“Cậu từng bị đầu thuốc lá chạm bỏng chưa?”
“Chưa…”
“Vậy hãy tưởng tượng bị một cây kim đâm vào, sau đó bơm cả ống nước ớt vào trong.”
Trần Hạo rụt cổ.
“Sau gáy tôi sưng lên một cục. Tôi vào hiệu thuốc cạnh cửa ga mua thuốc. Nhân viên hiệu thuốc nhìn một cái rồi nói: ‘Trường hợp này phải đến bệnh viện, sợ anh bị dị ứng.’ Tôi đến bệnh viện, đăng ký cấp cứu, lấy máu xét nghiệm, chờ kết quả. Loay hoay xong thì cả buổi sáng cũng hết.”
“Cậu có dị ứng nọc ong không?” Tống Vi hỏi.
“Không. Nhưng lúc đó tôi đâu biết.”
“Hôm đó cậu xin nghỉ ốm đúng không?”
“Không.” Tôi nói. “Buổi chiều tôi vẫn đến làm. Chỉ đi muộn cả buổi sáng.”
Tống Vi gật đầu, lật hồ sơ: “Ghi chú đi muộn hôm đó của cậu là ‘Phát sinh tình huống phải đi khám bệnh’.”